Chân thành cám ơn các bạn đã đến với blogger: HƯƠNG NGÀN - Của Hồ Nhật Thành!

Thứ Tư, ngày 27 tháng 8 năm 2014

NGƯỜI MIỀN NÚI 3


Một chị nói nhỏ vào tai tôi: “Mi muốn không bị ai quấy rầy thì dọn sang ở với con Lan.” Tôi nhíu trán, nhìn chị. Chị giải thích: “Hồi đang học ở Tân Kì, khi cả hội đi chơi thì cử Lan trông nhà, chẳng lo đồ đạc bị mất vì chẳng ai đến cả.” Là phụ nữ, ai chẳng muốn mình xinh đẹp, nhưng trời bắt tội phải xấu thì cũng đành chịu chứ biết làm sao? Nhưng nhiều khi cũng tủi thân lắm. Chị Lan sống chân thành, hay giúp đỡ bạn bè, chỉ vì xấu quá mà thường chịu thiệt thòi. Sau này chuyển về Quỳ Hợp, ông trưởng phòng nói thẳng vào mặt chị: “Xấu như mi thì vô vùng sâu mà dạy, ở ngoài ni mà nhát học sinh à?”Chị gặp tôi, kể và khóc.
  Tôi dọn sang ở với chị. Khá yên ổn. Chỉ có điều là nói chuyện với chị nhạt phèo vì vốn hiểu biết xã hội của chị cạn cợt. Nhưng dù sao, chị vẫn là chỗ dựa cho tôi trong năm đầu tiên bước vào nghề.

  Đồng bào ở đây chủ yếu trồng lúa nếp, loại nếp rẫy hạt to và rất dẻo, bây giờ nó trở thành đặc sản đấy, nhưng hồi đó chúng tôi cứ sáng cơm nếp, trưa cơm nếp, tối cơm nếp. Tôi vốn đã không thích nếp, giờ bị tra tấn ngày ba bữa. Chỉ nghe mùi cơm là đã nhức hết cả đầu. Mọi người bảo: “Ăn đi, cố mà nuốt, chan canh vào, lùa vào miệng, lấy lưỡi lừa lừa, nuốt trướn đi, vào đến bụng rồi là ổn, “không to ngang cũng nậy dọc”. Khiếp! Có khi nuốt gần được lại bị đẩy trở ra. Phải giữ lại, nuốt tiếp! Nước mắt nước mũi thi nhau chảy. Phải ăn, không ăn nếp thì biết ăn gì?
  Nhưng muốn có cơm ăn thì phải giã gạo.
  Gạo giã bằng chày tay. Cối làm từ một khúc gỗ to, một đầu khoét cái cối tròn, còn khoảng 2 mét thì khoét như cái máng. Thao tác đầu tiên là bỏ lúa bông vào cái máng ấy, giã cho ra lúa hạt. Nếp  rẫy bám dai lắm, đạp bằng chân là không xong, phải giã thật mạnh để lúa hạt rơi ra. Sau đó bỏ lúa hạt vào cối tròn, giã tiếp cho thành gạo lứt. Bốc ra, sảy vỏ trấu đi rồi bỏ tiếp vào giã cho trắng. Nhìn phụ nữ ở đây giã gạo mới thấy hết vẻ đẹp khỏe mạnh, dẻo dai và sự mềm mại của họ. Những nhịp chày thật đều, thật khỏe, cả thân hình như nhún nhảy theo điệu nhạc. Thỉnh thoảng họ còn gõ vào thành cối nghe tiếng cụp cum thật vui tai. Bây giờ các sao hở vòng 1  gây tốn kém bao nhiêu giấy mực của các báo, còn hồi đó, phụ nữ Thái khi làm việc thường không  mặc áo. Họ kéo váy cao đến nửa ngực, vấn lại cốt để hai quả khỏi lúc lắc, rồi giã gạo, vác nước, cuốc rẫy, làm nương…Thế mà da cứ trắng mịn trắng màng.
  Phụ nữ có con nhỏ thường địu con trên lưng để làm việc. Chắc các bạn còn nhớ bài KHÚC HÁT RU NHỮNG EM BÉ LỚN TRÊN LƯNG MẸ của Nguyễn Khoa Điềm:
 “Nhịp chày nghiêng giấc ngủ em nghiêng
    Mồ hôi mẹ rơi má em nóng hổi”
Có cô giáo giảng hai câu thơ này líu lo: “ Hai câu thơ vẽ nên hình ảnh thật chân thực và cảm động: mẹ giã gạo, mồ hôi rơi trên má em, những giọt mồ hôi nóng hổi…” Thật vớ vẩn!
  Mồ hôi mẹ rịn từ trán, từ thái dương, có nhỏ thì nhỏ xuống cối gạo ấy. Bé  nằm sau lưng mẹ, trong một tấm vải cột chéo lên vai. Mồ hôi có rịn trên lưng cũng thấm vào vải, rơi sao được lên má em cơ chứ! Nhưng lưng mẹ cũng nóng lắm, má bé chín lựng, bé ngủ say sưa theo nhịp chày lên xuống của mẹ.
Bà mẹ Tà ôi của Nguyễn Khoa Điềm thật dại:
“Mặt trời của bắp thì nằm trên đồi
Mặt trời của mẹ em nằm trên lưng”
Biết con là mặt trời nhỏ của mẹ đấy, nhưng để con nằm trên lưng dưới ánh nắng thế tội con lắm! Con hứng hết nắng cho mẹ còn gì! Mặt trời của bắp sẽ nướng chín con mất thôi!  Người mẹ Thái khôn hơn. Lên đến rẫy, bé được đặt trong cái gùi và treo lên cành cây gần chỗ mẹ làm. Mẹ lấy tàu lá cọ che nắng cho con. Nghe tiếng con khóc, nếu không phải bị con kiến đi lạc nào đó cắn thì là con đã đói. Mẹ nhai nắm xôi mang theo cùng vài hạt muối bón cho con. Bé biết ăn cơm từ khi chưa đầy tháng cơ, ăn thế bé no lâu, mẹ còn có thời gian mà làm việc.
  Lại nói đến chuyện giã gạo của tôi. Lần đầu tiên cầm cái chày, tôi mới giơ lên một chút đã phải dập xuống ngay. Nặng quá! Chọn cái chày nhỏ hơn, loại chày dùng cho trẻ con, tôi giã chày trúng chày trật. Mồ hôi thi nhau tóa ra, ướt đầm cả mặt, cả lưng. Mệt. Dừng lại thở…Nhưng phải tập thôi, phải cố thôi. Đã vào đến đây rồi, cái gì người ta làm được mình cũng phải làm bằng được. Con người ta luôn phải tập thích nghi với hoàn cảnh là vậy. Tay tôi bỏng rộp lên, da bong ra từng mảng. Xòe bàn tay đỏ lòm, rớm máu. Đêm, tay đau nhức, người mỏi nhừ. Nằm trở trăn không ngủ được, tôi lại khóc. Chị Lan cằn nhằn: “ Khóc chi mà khóc, mi có đủ nước mắt mà khóc cả mấy năm không?”
  Mùa mưa ở vùng biên thật khủng khiếp. Mưa tầm tã ngày này qua ngày khác, mưa cả tuần không tạnh. Những ngôi nhà sàn chìm trong mưa. Rừng núi biến mất trong màn mưa trắng xóa. Đường vắng tanh không một bóng người, học sinh nghỉ học một tuần hay mười ngày là chuyện thường. Nằm nghe tiếng mưa âm âm, đều đều suốt ngày suốt đêm, tâm trạng ta có khi đông cứng lại, có khi tan chảy ra, có khi tã tượi …cứ bồng bềnh bồng bềnh hư thực không cảm xúc. Mọi liên lạc từ xã ra trung tâm huyện bị cắt đứt hoàn toàn. Nỗi lo thiếu muối, thiếu dầu thắp cứ tăng dần trong từng trận mưa. Đồng bào ở đây quí muối và dầu còn hơn cả máu, đừng nghĩ chuyện đi xin hay vay. Đêm kí túc đen đặc, không phòng nào thắp đèn để tiết kiệm dầu. Cũng không có ánh đèn pin lia qua lia lại của trai bản. Tiếng hát nhạc vàng của cô giáo rên rỉ trong tiếng mưa rơi. Mưa lâu quá rồi dầu muối cũng cạn. Cơm tối, mọi người thay phiên nhau cầm đuốc soi để ăn. Tàn đuốc bay cả vào nồi canh, cũng đỡ nhạt muối.
 Một người thì thầm: “Trong rương thầy Kỳ “khỏn” có chai dầu!”. Hỏi, thầy chối: “Có thì mình đã đưa cho kí túc dùng, công chi để chịu khổ thế này.” Nhân lúc thầy đội mưa vào bản đổi hàng, chúng tôi quyết định kiểm tra. Rương khóa bằng ống khóa Việt Tiệp, chịu! Nếu khóa vi so thì lấy kẹp tóc mở cũng ra. Lắc lắc, lật nghiêng lại, lật úp lên. Chẳng biết có gì trong đó mà nặng kinh khủng! Thầy về, chúng tôi nín thở theo dõi…Cá khô này, thuốc lào này, kẹo nu ga này, ảnh và thư của vợ nữa…Tất cả lấm lem mực và bốc mùi dầu hỏa nồng nặc! Thành tích của chúng tôi là làm cho lọ mực Cửu Long và chai dầu đổ ra be bét! Thầy cầm tập thư lên, thẫn thờ. Nghe bảo đêm đó thầy khó ngủ, nằm thở dài sườn sượt. Tưởng tiếc của, hóa ra là nhớ vợ. Dứt đợt mưa, thầy bảo phải ra họp công đoàn nhưng thực chất là về Nghĩa Đàn thăm cô vợ xinh đẹp và đứa con gái 2 tuổi. Chúng tôi biết chắc như thế là vì khi vào trường, mặt thầy hốc hác. Thầy mở rương, cầm tập thư của vợ xé tan tành. Thầy ném lọ mực vào bức ảnh vợ lâu nay cất dưới đáy rương. “Nó dính bầu hai tháng với tay buôn vàng – thầy kể với hiệu trưởng – và đòi li hôn. Nó bảo không hơi đâu phí hoài tuổi xuân và sắc đẹp để chờ đợi một thằng giáo viên nghèo kiết xác lại đi biền biệt trên rú trên ri.”
 Thầy dùng khóa Việt Tiệp khóa thuốc lào, cá khô, kẹo nu ga và dầu hỏa, vậy lấy gì để khóa cô vợ tuổi xuân thì mơn mởn ở quê nhà thầy ơi!

 ( Thôi, lan man rồi, hôm sau kể tiếp nhé)

Thứ Bảy, ngày 23 tháng 8 năm 2014

NGƯỜI MIỀN NÚI 2

Tôi hoảng hốt xô cửa chạy ra khỏi phòng. Gió lạnh thốc vào mặt ngồn ngột.  Bất giác tôi muốn khóc. Đến phòng thầy hiệu trưởng rồi sang phòng thầy chủ tịch công đoàn, phòng nào cũng tối thui. Tôi lại chạy qua phòng mấy cô giáo phía dãy trước. Tiếng nói chuyện rì rầm, thỉnh thoảng có tiếng cười ré lên nghe chừng thích chí lắm. Phòng nào cũng có trai bản ngồi trùm chăn cùng cô giáo. Tôi không dám vào, chỉ rón rén đi qua. Đến tận cuối dãy kí túc, nghe tiếng hát nhạc vàng khe khẽ, tôi dừng lại, ngó vào. May quá! Phòng này không có trai bản. Cô giáo Lan đang nằm đắp chăn ngang cổ, tay cầm cuốn sổ ghi bài hát thời học sư phạm và...ỉ ôi như con mèo ướt mưa. Thấy tôi, chị ấy có vẻ ngạc nhiên: “Răng đi lại đây? Đầu phòng mi không có ai chơi à?” Tôi nói rõ sự tình, chị ấy nghe và chỉ im lặng, thở dài.
Chị Lan vào đây đã ba năm, nghĩa là sắp hết nghĩa vụ vùng sâu. Chị vừa thấp, vừa xồ xề. Da chị đen, tái xám như thịt trâu luộc. Tóc trên đầu lơ phơ, được cột túm lại một nhúm chẳng khác lông đuôi ngựa. Chị bị sốt rét nặng nên môi vốn đã dày lại thâm sì. Gần như chị không có cổ, cằm và ngực chạm nhau. Nghe bảo có lần, lớp chị bị giảm sĩ số nghiêm trọng, hỏi nguyên do vì sao các em không đi học, chúng hồn nhiên: “ Cô giáo xấu lắm, không học đâu. Chờ khi nào có cô khác tới mới học.”
  Im lặng hồi lâu, chị bảo: “Rồi cũng quen cả thôi em. Ở đây, có người đến nói chuyện với là vui rồi. Ai cũng thế cả. Chỉ có chị là không  thôi, vì chị xấu...” Nghe giọng chị nghèn nghẹn, tôi chạnh buồn.
Chị hỏi:
-         Em học sư phạm Vinh răng lên đây? Ở đây chỉ có dân học Tân Kỳ thôi, 10+ 3 thì dạy cấp 2, 10+2 thì dạy cấp 1.
(Tân Kỳ cũng là một huyện miền núi Nghệ An, ở đó có trường Trung cấp sư phạm  đào tạo giáo viên phục vụ miền núi là chủ yếu)
  Tôi thắc mắc, buổi tối các thầy trong kí túc mình đi đâu hết? Đi vào bản chứ đi đâu. Thầy đi uống rượu cần, đêm nào mà trong bản không có nhà mở vò rượu. Thầy chủ tịch công đoàn thì tranh thủ đi đổi hàng. Thầy mang thuốc lào, cá khô, kẹo nu-ga... vào đổi mộc nhĩ, đổi măng khô, đổi xương khỉ, xương trăn, xương hổ...Đồng bào ở đây thật thà, thầy giáo nói thì tin răm rắp. Hàng của thầy  gói thành từng gói, còn hàng của dân thì cân lên. Thầy lấy cân đĩa để cân, và bao giờ cũng trừ một lạng đĩa. Khi cân, họ chỉ  để ý kim đừng  lệch già, còn đọc mấy lạng mấy cân là việc của thầy, họ không bao giờ nghi ngờ. Thông thường hàng đựng trong bao xác rắn mỏng thầy trừ 5 lạng bì. Có hôm, thầy cân mộc nhĩ, xướng 5 lạng, chị chủ nhà đứng ngẩn ra một chút rồi thắc mắc: “Ô, thế ra trừ bì rồi, mộc nhĩ không được lạng nào à?” Biết lỡ lời, thầy chữa: “Vì nó quá ít ấy mà. Nhưng thôi, thầy vẫn cho 2 gói thuốc lào.” Chị ta  cảm ơn rối rít, bảo thầy tốt lắm, tốt lắm!
  Tôi há hốc mồm nghe chị kể, vừa buồn cười, vừa xót xa.
Chị kể tiếp: Vào trong bản mua gà, cứ con nào to nhất, béo nhất thì bắt. To nhỏ gì cũng 5 đồng. Hôm nào không có gà to, bảo gà nhỏ thế này 3 đồng thôi. “ Ô, không được mà. Nó nhỏ thì hôm sau nó to, chưa bắt thì nó còn sống với bạn nó đó, lo gì.” Còn mua chuối thì không bao giờ nguyên nải. Cứ một đồng ba quả thì phải tách rời từng 3 quả một mà tính tiền. Cô giáo đừng nói nhân chia chi cho khó hiểu. Cô giáo mua thì bán, không thêm quả nào hết. Nhưng cô giáo xin thì cho cả buồng cũng không phân vân. Gạo thóc cũng vậy, nếu cô giáo thiếu, có thể cho cô một gùi lúa mang về mà giã. Còn đã đến vay gạo, một bát cũng phải trả, lâu không trả là đến đòi.  Nhà nào cũng làm một cái chòi, gặt lúa bông phơi khô trên rẫy rồi đem về chòi cất. Chòi lúa ngay cạnh đường, không khóa, chỉ buộc cửa sơ sài, nhưng chẳng ai lấy của ai cả. Nếu thiếu thì xin nhau, nhà còn cho nhà đã hết. Hết cả rồi thì lên rừng đào củ mài, củ nâu, hái măng mà ăn. Đợi lúa trên rẫy chín thì lại có cơm. Lo gì.
  Người miền núi khi đi đường thường theo một hàng dọc, sát mép đường, dù đường rộng cũng vậy. Người nọ nối tiếp người kia, nhìn đoàn người đi biết đường quanh hay đường thẳng. Tôi thích ngắm các mẹ, các chị đi đường, váy lấp lánh ánh nắng (trên váy họ thêu mặt trời, chim muông, hoa lá…và chỗ hình mặt trời thường được cài một mảnh gương nhỏ). Nhìn các mẹ, các chị nối nhau leo lên những nương rẫy lưng chừng trời để gặt lúa, gùi lúa về, tôi ghi lại một cách hồn nhiên:
Lúa rủ nhau lên đồi cao ngất
Bế cùng người gắng sức leo lên
Nghe lời bế, lúa về “kho lương thực”
Nó mỉm cười: người đã thắng thiên nhiên!
(Bế là cái gùi của đồng bào)
Nhưng đó là sau này, còn đêm ấy thì tôi mới chỉ “tiếp xúc” với người miền núi qua lời kể của chị Lan thôi. Tôi ngồi với chị đâu khoảng 10 giờ, nghĩ chàng trai kia đã về, tôi lò dò trở lại phòng mình.
Thật không tưởng tượng được, hắn đang nằm gọn trên giường tôi, gối đầu lên chiếc gối trắng tinh mà tôi đã kì công thêu từ hồi đang học ở trường,  chăn trùm kín mít và…ngáy khò khò! Trời ơi là trời! Thế này thì thật quá đáng! Tôi lấy cái thước tre trong góc phòng, quật mấy cái vào chân hắn. Hắn tỉnh ngủ, ló cái đầu bù xù ra khỏi chăn: “ Ơi, giặc non à”( Ôi, muốn ngủ quá) Hắn ngồi dậy, nhưng vẫn chưa có ý định ra khỏi phòng.“Về ngay! Về ngay!” Tôi hét lạc cả giọng. Thoáng cái, mấy chiếc đèn pin cùng dọi tới. Tôi lóa mắt, lấy tay che. Một giọng lơ lớ: “ Cô giáo trẻ đẹp lắm lơ. Sao buồn ngủ sớm thế? Chưa về đâu nơ!” Tôi bật khóc, mấy chị đến nói bằng tiếng Thái với hắn câu gì đó, hắn ngoan ngoãn ra khỏi phòng.
  Giũ chiếu, giũ chăn, tôi đi ngủ trong tâm trạng buồn tê tái. Trời càng về khuya càng lạnh, tôi nằm co ro không đắp chăn vì sợ cái mùi khăn khẳn ấy. Lần đầu tiên, tôi cảm nhận sự chua chát của cuộc sống chốn vùng sâu. Vì tự ái với anh mà tôi dứt khoát không thèm về dạy học ở Hưng Nguyên, nơi anh đã tìm mọi cách để xin cho tôi. Tôi vênh mặt lên, vẻ bướng bỉnh của một đứa trẻ con muốn tự khẳng định mình: “ Đi vùng cao thì đã sao? Em sẽ đi để anh thấy rằng, không có anh em vẫn sống được.” Tôi chia tay mối tình đầu nhẹ tênh như thế.Chia tay vì sự tự ái trẻ con để rồi đường sự nghiệp và hôn nhân đều rẽ vào lối u buồn.

(Hôm nay gõ đến đây thôi nhé, đi nấu cơm tối đã)

Thứ Năm, ngày 21 tháng 8 năm 2014

NGƯỜI MIỀN NÚI(1)

Hồi những năm tám mấy, tôi lên dạy học ở một trường giáp biên giới Việt – Lào. Ở đây chủ yếu là đồng bào dân tộc Thái sinh sống. Khi phát quyết định cho chúng tôi, lãnh đạo phòng có mấy lời “tập huấn” cho lũ sinh viên đang ngơ ngác nhìn đời: “ Đồng bào dân tộc vốn hiền lành, thật thà nhưng cũng rất hay tự ái. Các cô nhớ cư xử mềm mỏng, tế nhị với họ, đừng để họ phật ý. Vì như thế, việc duy trì sĩ số học sinh sẽ rất khó khăn.”
  Trường cách trung tâm huyện một ngày rưỡi đường đi bộ. Khác với những cô bạn mít ướt đang khóc tấm tức vì đau chân, vì mệt, vì nghĩ đến một tương lai xám xịt  ở một nơi vùng sâu, sâu đến tận cùng này, tôi lại thấy mình hứng khởi hẳn lên trước một vùng nơi giáp biên có nhiều điều lạ lẫm mà mình mới chỉ biết thoáng qua trong trang sách. Những ngôi nhà sàn to lớn và vững chãi, mặc dù chỉ lợp mái cọ và thưng phên nứa. Bao quanh bản, nhìn xa hơn, cao hơn, những nương rẫy mướt mát màu của lúa, của ngô. Những đường mòn lên rẫy như những sợi chỉ ngoằn ngoèo. Gió mùa thu thổi nhẹ, mang theo cái se lạnh của miền sơn cước. Tôi mở sổ tay, ghi lại mấy vần thơ đầu tiên:
“Ở Vinh chỉ có mấy nhà tầng
Phải qua bao kĩ sư xây dựng
Ở đây nhà tầng chen chúc đứng
Chỉ qua bàn tay của nông dân”
Gần sáng, sau một đêm mê mết, tôi bị đánh thức bởi râm ran tiếng chày giã gạo của đồng bào. Những nhịp chày tay thậm thình khắp mọi chốn, vọng vào vách núi  như đánh thức vạn vật trước một ngày mới đến. Tiếng chày vang lên khoảng lúc năm giờ sáng. Rộn rã, rập rình,  nhịp nhàng như tiết tấu bản nhạc rừng. Khoảng hơn sáu giờ thì tiếng chày thưa dần, thưa dần rồi ngưng hẳn. Tôi mỉm cười một mình, mở sổ ghi tiếp:
“Màn đêm xuống, bóng đen mờ mịt lối
Khiến cho ta không nhìn thấy đường đi
Tiếng chày khua…đâm thủng màn đêm ấy
Ánh ban mai trở lại tức thì.”
 Vâng, đó là những cảm nhận bước đầu về cảnh. Tôi sẽ trở lại đề tài tôi đang kể cho các bạn nghe, đó là người miền núi.
  Đêm thứ hai ở trường, khi biết có một số cô giáo trẻ mới vào, những thanh niên bản đã rủ nhau đến kí túc chơi, gọi là “Ín xáo lạ” (chơi gái lạ). Tôi kinh khiếp khi nhìn thấy một người lùi lũi vào phòng minh. Đầu tóc tốt rợp, quần ống loe lết bết quét đất. Nói không ngoa, ống quần anh ta có lẽ phải hơn một cân bùn đất, bám từng lớp cứng đơ dày cộp dưới gấu. Một đôi chân mốc xì với mười cái móng không thể bẩn hơn được nữa xỏ trong đôi tông Lào màu vàng cũng bẩn như chủ nhân của nó. Chẳng nói chẳng rằng, anh ta ngồi lên giường. Tôi vội kéo chiếc chăn bông vỏ con công thơm phức của mình quấn vào người kẻo anh ta ngồi trúng.(Hồi ấy có được cái vỏ chăn ấy là ...nhất quả đất rồi). Anh ta nhìn tôi, cười cười, rồi vươn tay cầm múi chăn, kéo lại quàng lên người. “ Cho ta với, ta cũng lạnh mà!” Tôi hét lên: “ Không được!” rồi giật lại. Anh ta nhìn tôi một thoáng, ngơ ngác rồi xoay người, bưng cả đôi chân gớm ghiếc ấy lên giường, xịch vào tận phía trong vách, nơi tôi đang ngồi co rúm. Chiếc chăn bông lại bị kéo mạnh ra, anh ta quàng hẳn vào người và giữ lấy múi chăn. “ Ta một nửa, cô giáo một nửa. Chăn rộng mà!” Tôi đứng bật dậy, nhảy ra khỏi giường khi vừa kịp cảm nhận mùi khăn khẳn, khen khét từ anh ta xộc vào mũi mình.
                                                    (còn nữa)



Thứ Sáu, ngày 15 tháng 8 năm 2014

MỘT THOÁNG THU

(Từ ngày hôm nay bắt đầu quay trong vòng xoáy của lịch, HƯƠNG NGÀN sẽ thưa đăng bài  nhé)

MỘT THOÁNG THU
Trời vời vợi biếc xanh
Mây bồng bềnh trôi nhẹ
Thảm cỏ nào mướt thế
In trên áo em tôi?

Sương mai chúm chím cười
Cúc vàng đùa chị gió
Sóng sánh trong mắt bé
Giọt nắng vàng lung linh.

Ríu rít như đàn chim
Hồn nhiên như lũ bướm
Em mang mùa thu đến
Giục trống trường reo vui!
                                                       
                                        15/8/2014

Thứ Hai, ngày 11 tháng 8 năm 2014

THAY ĐỔI???

Có tiếng xe tắt máy trước cổng. Nàng rời mắt khỏi màn hình máy tính, nhìn ra ngoài qua song cửa sổ. Một thoáng ngạc nhiên và sau đó là sự bực bội vô cớ len nhẹ vào lòng nàng. Hắn đứng trước cổng, tay ngập ngừng giơ lên rồi hạ xuống. Hắn ngó vào. Qua khung cửa, hắn đã thấy nàng. Một chút phân vân, hắn gọi nhỏ: “ Có nhà không em?”. Nàng giả tảng phớt lờ như không nghe thấy, cúi xuống gõ tiếp vào bàn phím. Chữ cái ghép loạn xạ. Nàng cố hất cái cục nặng như chì đeo bám trong lồng ngực ra ngoài qua tiếng thở dài. “Mở cửa cho anh với!” Hắn lại gọi khẽ. Con mực ngoáy đuôi, kêu ăng ẳng.
Nàng uể oải đứng dậy, chậm rãi bước ra. Hắn nhìn nàng, bối rối, lúng túng: “ Em… không đi trường à?” Nàng im lặng. Hắn thừa biết hôm nay là ngày nghỉ chuyên môn của nàng. Nàng rút chốt, hắn nhanh nhẹn đẩy cánh cổng rộng ra và dắt xe vào, nở một nụ cười cơ học. “Hừ, nàng thầm nghĩ, trước đây mỗi khi hắn phóng xe về, dù là đang rán dở món trứng trên bếp, nàng cũng phải dừng ngay lại mà chạy ra mở cổng, mà cười thật tươi và hỏi: “Bố nó đã về rồi à?” Nếu chậm một phút,  hắn sẽ trợn trừng mắt, quát: “ Làm gì mà chết gí trong đó hả?”. Dạo này hắn đã… thay đổi?
  Xách một túi quà to đặt lên bàn, hắn gãi gãi đầu: “ Anh đến gặp hai con, mua cho chúng ít quà.” Nàng vẫn im lặng. Chẳng lẽ hắn quên là giờ này bọn trẻ đang ở trường? Liếc nhìn túi quà, nàng nhận ra ngoài mấy dây sữa tươi và mấy gói bim bim là một bình sữa tắm loại nàng hay dùng: Em tắm anh yêu. Yêu đâu chẳng thấy, chỉ thấy trước đây hắn thường mỉa mai mỗi khi nàng mua về: “Tóc quăn chải lược đồi mồi/Chải đứng chải ngồi quăn vẫn hoàn quăn. Người ấy có mà tắm sữa tiên cũng thế thôi. Để tiền mua mấy chai bia còn có ích hơn! ” Thế mà giờ tự tay hắn mua đến cho nàng. Ừ nhỉ, chắc hắn đã… thay đổi?
  Nàng lặng lặng rót nước. Hăn nhìn nàng, giả lả: “ Em không dùng chè xanh nữa à? Ừ mà nước lọc cũng…tốt cho sức khỏe, nhỉ?” Nàng khẽ nhếch một bên mép, nhưng vẫn nín thinh. Hồi trước, dù bận mấy, sáng mai nàng cũng phải om cho được một ấm chè. Buổi sáng phải có cốc chè xanh nóng giòn, việc cỏn con đó mà cũng không thực hiện được thì làm vợ làm quái gì. Hắn bảo thế. Khuya, có hôm sực nhớ hết chè, nàng phải tức tốc đạp xe ra quán mua bằng được. Giờ nói thế, có nghĩa là hắn đã ….thay đổi?
  Hắn nhớm dậy, chuyển sang ngồi sát bên nàng. Nàng khẽ dịch ra. “Dạo này em sống có ổn không?” Thế nào là ổn? Nàng thầm nghĩ. Sáng dạy, chiều dạy, tối soạn bài, kèm con học. Việc nhà tranh thủ sáng sớm hoặc buổi trưa. Đồng lương công chức. Trong đầu, nhẩm phép chia cho tốt để chia cho tròn, nhẩm phép trừ cho thạo để kẻo vướng số âm. Nếu nói thế là ổn thì quá ổn! Ừ mà hắn lại biết quan tâm đến nàng nữa cơ đấy! Hắn lại muốn ngồi gần nàng nữa cơ đấy! Hắn… thay đổi thật rồi sao?
   Trước, hắn bảo hắn không muốn nhìn mặt nàng, ngồi gần nàng ăn cơm mất ngon, ngủ cùng giường với nàng mất cả hứng! Đàn bà gì mà suốt ngày cau có, bực dọc, rên la đủ thứ.Không có tiền thì đã sao? Khối người nợ nần chồng chất mà vẫn sống phởn phơ đấy thôi?  Đàn ông lang bang ở ngoài, vui vẻ tí chút thì đã sao? Nếu không có những người đàn ông như hắn thì quán xá mở ra để chưng hàng à? Những cô gái chân dài eo thon mông nở ngực đầy uốn éo cho ma nhìn à? Người ta cũng là đàn bà đấy, nhưng ở bên  người ta chẳng khác nào ở chốn thiên đường! Thiên đường của hắn  lời nói êm nhẹ như gió thu, bàn tay mát dịu như mưa xuân. Khi hắn nằm thoải mái trên ghế đệm mút,  thiên đường oàm người từ bên này sang bên kia để lấy ráy tai cho hắn, hắn cảm nhận sự hừng hực  nồng nàn từ bộ ngực tròn đầy nhưng nhức, quyến rũ đến mê hồn. Hắn đê mê, rạo rực trong từng tế bào. Bạn bè bảo: “Tỉnh lại đi kẻo hối không kịp!” Hắn cười: “ Chẳng việc gì phải hối! Từ bỏ địa ngục để đến với thiên đường thì có gì mà hối?” Thiên đường của hắn, một cô gái ở tiệm cắt tóc xinh như cô gái trong Hồng lâu mộng, và … làm tình mới tuyệt làm sao! Hắn cao hứng khoe với bạn bè ngay cả khi có mặt nàng.Ừ thì cũng có khi thiên đường giận hờn trách cứ ghen tuông nhưng trông lúc đó hắn vẫn thấy đáng yêu, đâu có kiểu mặt hầm hầm như trời động giông thế kia. Mới nhìn đã mất cả hứng!
  “Dạo này em sống có ổn không?” Hắn đã biết lo cho nàng? Hắn đang quan tâm đến nàng? Hắn thay đổi đến thế kia ư?
  Hắn nhìn sang nàng, ánh mắt vừa dịu dàng, vừa tỏ ta  biết lỗi. “ Anh muốn chúng mình cùng nghĩ lại…” Giọng hắn buồn như chiều heo may. Thoáng chốc, lòng nàng chênh chao.
Bỗng chuông điện thoại đổ dồn…Bấm phím xanh, hắn gắt: “ Đang họp!” rồi nhấn luôn phím đỏ. Màn hình điện thoại sáng nấn ná một chút rồi tối lại.
  Nàng chợt bừng tỉnh. Hắn không hề thay đổi. Chỉ có một sự thay đổi thôi: trước đây nàng là người gọi, còn kẻ vừa gọi đó đang ngồi bên cạnh hắn như nàng hôm nay. Nàng đứng dậy, giọng băng giá:

 -  Anh về đi. Tôi đang rất bận. Và nhớ đừng bao giờ đến khi tôi ở nhà!
                                                                    
                                                                                    Quỳ Hợp,  11/8/2014

Thứ Bảy, ngày 09 tháng 8 năm 2014

ĐẾN VỚI BÀI THƠ HAY

TÌNH YÊU MÙA XUÂN CỦA TRƯƠNG QUANG THỨ.
                           (Phan Văn Từ)
  Trong cái lạnh giá buốt của mùa đông đã tiềm ấn sức sống trẻ trung của mùa xuân, bất chấp giá lạnh, những cành đào khẳng khiu đã hé những nụ hoa đầu tiên, rồi hoa đào rực rỡ kéo nắng xuân trở về. Mặt người cũng hồng hào hơn trước sắc hoa, trước sự dập dìu của những cánh ong. Đã nghe thì thầm trong gió tiếng dịu dàng của hương, đã nghe tiếng nụ chồi tách vỏ làm nên cái nặng đầy của mùa xuân.
Tiếng dịu dàng của hương
Nghe thì thầm trong gió
Tiếng nụ chồi tách vỏ
Nghe nặng đầy trong cây.

Tiếng mùa Xuân đâu đây
Nghe tim mình chộn rộn
Như có lời hò hẹn
Suốt đời mãi kiếm tìm.

Có thể tiếng lòng em
Không vọng về anh nữa
Nụ hoa đào vẫn nở
Như nỗi nhớ trước thềm

Và nếu ai lãng quên
Thì mùa Xuân vẫn đến
Mùa Xuân không lỗi hẹn
Gọi tình yêu trở về…
   Nhà thơ Trương Quang Thứ đã mở đầu bài thơ Tình yêu mùa xuân của mình bằng bốn câu thơ tả cảnh thật đẹp. Những ai chăm đọc báo tết, báo xuân sẽ nhớ đến một Trương Quang Thứ với những bài thơ đẹp, trong lành như những hạt mưa xuân ấm nồng.
  Con người luôn mở rộng vòng tay ưu ái với đời này lại là một người chịu khá nhiều bất hạnh. Năm 1973, sau khi học xong PTTH, anh ở lại địa phương tham gia sản xuất, giữa buổi cày ruộng, anh vấp phải mảnh bom giặc Mỹ, chân toạc máu. Sau mấy tháng chạy chữa ở quê  nhà, bệnh chuyển sang khớp. Lại những năm tháng nằm liệt giường ở bệnh viện Việt Nam- Ba Lan, bệnh viện Việt Đức, bệnh viện Đông y trung ương, rồi cuối cùng là bệnh viện Hà Bắc. Tai đây, anh gặp chị Nị, cô gài Kinh Bắc này đã thông cảm sâu sắc với nỗi đau của Trương Quang Thứ, yêu và xây dựng gia đình với anh. Năm 1977, vợ chồng họ chuyển từ Hà Bắc về Quỳnh Lập, Quỳnh Lưu quê anh. Hai lăm năm sống với người vợ và ba cháu trai trong bầu không khí đạm bạc mà ấm cúng, văn hóa ở một làng biển cách trở với huyện lỵ và thành phố ồn ào. Hai lăm năm, với chiếc ghế đặc biệt tư thế nửa nằm nửa ngồi, Trương Quang Thứ đã làm việc và nghỉ ngơi. Với một người dị tật nặng như anh, sống được đã là một nỗ lực phi thường, nhưng ở anh, sống không phải là cứu cánh duy nhất, anh còn có hoài bão đóng góp cho đời những sản phẩm tinh thần do chính trái tim, khối óc mình tạo nên, những bài báo, trang văn, câu thơ đã ra đời từ cái ghế đặc biệt ấy. Hoài bão phi thường của anh được đền đáp: cuối năm 1999, bạn bè văn nghệ đã xúm nhau giúp anh xuất bản tập thơ đầu tay, và “Tình yêu mùa xuân” là một trong 34 bài thơ được chọn in trong tập “Tình Trăng” của Trương Quang Thứ.
Mùa xuân bắt đầu từ sự nỗ lực của cuộc sống. Cây tách vỏ, đâm chồi, nở hoa, tỏa hương, và tình yêu đã đến trong cái chộn rộn của trái tim, của lời hẹn hò đâu đó trong hoa, trong lá:
Tiếng mùa Xuân đâu đây
Nghe tim mình chộn rộn
Như có lời hò hẹn
Suốt đời mãi kiếm tìm.
   Nhà thơ đã dành trọn hai khổ thơ đầu, hay nói theo phép tính số học, nửa đầu bài thơ để tả cái “ nặng đầy” trong sinh nở của trời đất, cây trái mùa xuân. Cũng có chút “tim mình chộn rộn”, nhưng chưa hẳn là ám chỉ con người đang yêu. Chỉ đến khổ thứ 3 của bài thơ, con người mới thực sự xuất hiện. Và như các bạn đang yêu, đã yêu từng trải nghiệm: Tình yêu bao giờ cũng liền kề với trách giận. Sự trách giận ở đây lại cũng không xác định cụ thể, là lời trách của cô gái vì đã chủ động rời bỏ em nên: “ Có thể tiếng lòng em/Không vọng về anh nữa”, cũng có thể hiểu là khẳng định của anh chàng, vì em đã bỏ anh đi với người con trai khác nên: “Có thể tiếng lòng em/Không vọng về anh nữa”. Cái hay và cái đúng, cái độc đáo của câu thơ chính là ở đây. Sự đổ vỡ trong tình yêu không thể từ một phía, và trách giận trong tình yêu cũng chỉ là để yêu thương nhau hơn, vì nụ đào đã nở rồi kia, đẹp như nỗi nhớ:
Có thể tiếng lòng em
Không vọng về anh nữa
Nụ hoa đào vẫn nở
Như nỗi nhớ trước thềm
   Sự ấm nồng tươi trẻ của đất trời mùa xuân đã gắn kết tình yêu lại. Để có mùa xuân non tơ, sinh nở, cây đời đã lớn lên, vượt qua tiết hạ oi nồng ngày thu vàng lá, đêm đông lạnh giá u buồn. Quy luật của thiên nhiên là bất biến: hết hạ sang thu, qua đông là mùa xuân đến. Mùa xuân là tất yếu, đã là con người tất yếu phải có tình yêu, tình yêu là mùa xuân, điểm khởi đầu và nơi tái sinh con người:
Và nếu ai lãng quên
Thì mùa Xuân vẫn đến
Mùa Xuân không lỗi hẹn
Gọi tình yêu trở về…

  Với “Tình yêu mùa xuân”, Trương Quang Thứ đã khẳng định sự vĩnh hằng của mùa xuân tươi trẻ, sinh nở, cái tình yêu đem lại cho cả cuộc đời. Chưa có gì mới trong cấu tứ, nhưng bằng lối ví von rất gần với ca dao, bằng lối thơ 5 chữ rất gần với ví dặm Nghệ Tĩnh, bài thơ đã có nét duyên riêng và đó chính là điểm tâm giao giữa nhà thơ và nhạc sĩ. Lời thơ của Trương Quang Thứ đã cất cánh cho âm nhạc Hồ Hữu Thới, âm nhạc Hồ Hữu Thới đã chắp cánh cho thơ Quang Thứ, như hương thơm của hoa nhờ gió xuân mà tỏa lan.

Thứ Bảy, ngày 02 tháng 8 năm 2014

BIẾT LÀ...



Biết không phải ở giữa rằm
Là đêm cuối tháng âm thầm giọt mưa
Mà sao vẫn cứ ngẩn ngơ
Hình như bất chợt trăng vừa thoáng qua ?

Biết mình: cỏ dại ven bờ
Vết chân người dẫm ơ hờ vậy thôi
Mà sao vẫn níu chút hơi
Ấp làm kỉ niệm khi người đi qua?

Biết người: trời rộng bao la
Ta : con chuồn nhỏ là là bờ ao
Cánh chuồn vẫn cứ khát khao
Một ngày nắng đẹp bay vào trời xanh !

Biết lời anh nói với em
Chỉ là chót lưỡi ngọt mềm đầu môi
Mà sao lòng vẫn bồi hồi
Con tim thổn thức hát lời mênh mang...

                                   2/8/2014
                                   Nhật Thành

( Hì...định đóng blog để ...tu, nhưng lại có cảm giác như bị...tù. Khổ thế!)

Chủ Nhật, ngày 20 tháng 7 năm 2014

ĐỨA CON ĐẦU LÒNG

Mang thai hơn ba năm, chuyển dạ hơn ba tháng, giờ thì nó đã lọt lòng. Tên nó là GÓC KHUẤT.
 Hồi trước, khi tôi lần lượt được đăng mấy truyện ngắn, bạn viết bảo: Nhật Thành ra một tập truyện đi. Tôi gạt ngay. Chẳng để làm gì cả, truyện viết cho vui, loanh quanh bạn bè đọc để có cái mà tán gẫu. Nhà văn đầy ra đó. Truyện ngắn, truyện vừa,  truyện dài, tiểu thuyết nhan nhản. Bày trò chi cho tốn tiền.
 Để được kết nạp vào Hội VHNT tỉnh, kèm theo hồ sơ là những tác phẩm đã được đăng trên các báo và tạp chí. Tôi gom được 12 truyện đã đăng, nhà thơ Võ Ngọc Sơn lại động viên: Thôi, nốt công in một tập, chỉ cần tiền xin cấp giấy phép, còn tiền in trả sau. Trả sau thì cũng phải trả. Mấy người gợi ý cho vay, tôi chỉ cười: “Em không muốn nợ nần những lúc chưa cần phải nợ.”
  Vào Hội, thấy bạn bè ai cũng có sách trình làng, tôi đâm ngại. Mọi người nhìn tôi, chờ ... Tôi “Ừ thì…” rồi lửng lơ con cá vàng vậy. Mỗi lần hội họp, gặp gỡ, giao lưu, mọi người lại nhắc. Tôi “Ừ” một tiếng gọn thơm!
  Đã “ừ” rồi, nghĩa là ta đã nợ ta, ta nợ người. Nợ một lời đã hứa. Theo góp ý, tôi nên chọn 10 đến 15 truyện, đóng thành bản thảo để gửi nhà XB xin giấy phép. Chọn truyện nào trong số gần 30 truyện đã viết? Tôi bỗng trở nên lúng túng. Nản, định rút tiếng “ừ” kia lại.
 Tôi hỏi anh, anh bảo hãy gửi những truyện em định chọn cho anh, anh sẽ đọc và biên tập cho. Mừng như chết đuối vớ được cọc.
Anh đọc và nhận xét mang tính định hướng cho tôi được mấy truyện thì phải dừng lại. Công việc làm ăn của anh không suôn sẻ. Nhưng rồi, có lẽ không yên tâm khi để tôi một mình lúng túng như gà mắc tóc với công việc tự mình biên tập cho mình, anh bảo: “Tối thứ tư  anh sẽ cho học trò nghỉ một buổi để đọc tiếp cho em”. Tôi cảm động đến rơi nước mắt, nhưng tôi không nỡ…Cuộc sống, công việc đã làm cho sức khỏe, niềm tin, nghị lực trong anh hao vơi, tôi không muốn anh phải bận tâm thêm nữa.
  Nhà thơ Ngọc Sơn bảo, truyện của em in được, cũng đã đăng tạp chí rồi còn gì. Nếu không yên tâm thì nhờ người này. Nhà thơ đưa cho tôi một số điện thoại. Hình như nghe tiếng Nghệ nhẹ như …đeo đá của tôi, người ấy vui vẻ, hào hứng hẳn lên: “Anh sẽ nhắn mail của anh cho em, gửi toàn bộ bản thảo anh sẽ đọc hộ cho và gửi Nhà xuất bản hội nhà văn xin giấy phép.” Tôi gửi, và chờ…Hôm sau, người ấy nhắn tin: “Anh sẽ đọc nghiêm chỉnh cho em.” “ Thế nào là đọc nghiêm chỉnh ạ?” Người ấy gọi lại, giải thích cho tôi hiểu, đọc nghiêm chỉnh là đọc hết, đọc kĩ để nhận xét thấu đáo. Đọc không nghiêm chỉnh là chỉ đọc lướt, có khi một tập truyện chỉ đọc vài truyện, có khi một truyện chỉ đọc mấy dòng. Có nhiều giải thưởng văn học, trong ban giám khảo chỉ một người đọc nghiêm chỉnh thôi, còn lại thì không cần đọc, dựa vào nhận xét của người kia mà…viết phiếu! Trò chuyện một hồi qua điện thoại, tôi mới biết, người đang đọc nghiêm chỉnh cho tôi là một nhà văn nổi tiếng, nguyên là trưởng ban văn xuôi của báo Văn nghệ, có loạt bài phóng sự “động trời”: LỜI KHAI CỦA BỊ CAN, lại cũng từng bị án treo bút 3 năm vì truyện ngắn LINH NGHIỆM. Tôi đâm hoảng. Nghĩ mình đúng là họ nhà Liều! Điếc không sợ súng! Nhưng thôi, đằng nào tôi cũng đã giao con cho người ta định đoạt số phận. Nếu không đạt chất lượng để xuất bản cũng…đỡ nghèo! Với số tiền đó tôi có thể mua được một cái điều hòa với một lò vi sóng. Chẳng phải cũng thoát nghèo là gì?
 Mấy hôm sau, nhà văn lại nhắn tin: “ Anh đã đọc hết, các truyện đều được”  Thở phào nhẹ nhõm, nhưng tôi chẳng biết mình buồn hay vui. Nhà văn gửi qua mail cả tập bản thảo kèm theo lời tóm tắt nội dung và những nhận xét rất…ưu ái  cho nhà văn Tạ Duy Anh.
 Khoảng gần một tháng sau, nhà văn Tạ Duy Anh nhắn tin cho tôi: “ Em quí mến ơi, anh đang viết giấy phép cho em đây.” Tôi hỏi số tài khoản của Nhà XB để nạp tiền quản lí phí. Chờ 10 ngày, chẳng thấy giấy phép, tôi nhắn hỏi, nhà văn bảo: “Ơ, sao bây giờ em mới hỏi, để anh xem nó mắc chỗ nào nhé.” Sau đó nhắn: “ Bọn nó quá máy móc em ạ, tài vụ chưa nhận được tiền nên nó chưa gửi, anh sẽ bảo gửi ngay cho em.” “ Nhưng em đã gửi tiền vào tài khoản ngay hôm đó mà.” “ Kệ nó, anh sẽ bảo nó gửi giấy phép cho em là được, đừng băn khoăn.” “ Nhưng em phải biết là tiền ấy nó đi về đâu.” “ Anh thì chỉ quan tâm là em sẽ đi về đâu thôi. He he…”
   Hóa ra chữ số 0 trong tài khoản, tôi ghi nhầm số 6. Tôi vốn hay cẩn thận như thế!
 Tạ Duy Anh gọi cho tôi, nói chuyện rất hóm và bảo, hôm nào ra Hà Nội thì ghé anh chơi để anh tặng sách. Hì…được một nhà văn có tác phẩm đưa vào chương trình giảng dạy trong nhà trường tặng sách thì còn gì bằng ! Đem ra mà khoe với đồng nghiệp, với học trò chắc sướng…tê người luôn.
   Có giấy phép rồi thì in cũng đơn giản, hợp đồng qua điện thoại, mọi thông tin gửi qua mail, tôi chỉ nằm nhà và chờ…
Và giờ thì nó đã ra đời. Khuôn mặt của nó đây:

Và "bụng dạ" của nó thì thế này:

                                          LỜI GIỚI THIỆU
Cuộc sống  thật muôn màu muôn vẻ, mỗi sự kiện, mỗi hiện tượng diễn ra thường nhật quanh ta đều là mỗi đề tài cho nhà văn thỏa sức khám phá và sáng tác. Tuy vậy đã mấy ai nhặt được những hạt vàng từ trong bãi sa mạc mênh mông?
Hồ Nhật Thành là một trong những nhà văn đã làm được việc ấy. Với chị: Mỗi con người, mỗi mảnh đời. mỗi sự kiện…được nhận biết từ sự phản quang của nó thì còn những GÓC KHUẤT cần phải có con mắt tinh tường, đồng cảm soi vào để thấy và nhận biết bản chất của vấn đề. Những mẩu chuyện của chị giống như những ngọn đèn vừa đủ sáng để người đọc tìm ra những GÓC KHUẤT ấy trong cuộc sống.
Vốn là một giáo viên văn, tâm hồn luôn nhạy cảm và đa cảm đã tạo cho chị một nét tài hoa trong tình yêu văn chương, tiếp cận văn chương một cách tự nhiên, hồn hậu và đầy ắp tính nhân văn.  Bởi vậy, những câu chuyện tưởng như rất bình thường qua ngòi bút của chị người đọc luôn ngộ được một điều mới, lạ và không kém phần sâu sắc, thâm thúy, để từ đó tự ngẫm và rút ra những điều nhắc nhở con người hãy luôn hướng về cái bản ngã chân thiện mỹ của mình.
Chuyện thầy trò trong trường học, chuyện làng xóm láng giềng, chuyện bán buôn lỗ lãi nơi thương trường, chuyện những cuộc sống cao sang quyền quý với những những cuộc sống khốn khó lầm than của những người nghèo khổ, chuyện nhân tình thế thái…hàng ngày đập vào mắt chị làm cho chị không nguôi ngoai, trăn trở giữa cái lý và cái tình, giữa cái thật và cái giả, giữa cái yêu và cái ghét luôn vật vã trong chị và buộc lòng phải trào lên ngọn bút mà thành.
Văn của chị không đánh đố người đọc nhưng những ai đọc văn chị đều không thể không có chút ngờ vực vì hình như vẫn có “một điều gì đó” sau mặt chữ, sau trang giấy. “Ý tại ngôn ngoại” trong văn chương là vậy.
Đã không ít người đọc văn chị bỗng giật mình bởi mang máng nghi hoặc: Hình như tác giả ám chỉ vào mình(?). Hình như họ đã nhận ra mình ở một nhân vật nào đó trong chuyện của chị? Đó cũng là một nét tài hoa độc đáo trong văn phong của chị. Và, đó cũng là thành công của chị. Tạo cho chị một phong vị rất riêng trong văn chương. Vì vậy, không ít người yêu chị nhưng cũng không ít kẻ gơm gớm cái bản mặt vốn hiền lành và trong sáng của chị!
Những điều trên đây có chân thật hay không xin mời quý bạn đọc đọc qua những câu chuyện nhỏ trong tác phẩm đầu tay này của chị sẽ rõ.
Hy vọng bạn đọc sẽ thỏa mãn và cảm  thấy vui, thú vị sau khi đã dành chút thời gian đọc xong tập truyện ngắn GÓC KHUẤT này.
                                                          Nhà thơ Võ Ngọc Sơn

Người đầu tiên chia vui với tôi là con gái, nó bảo: "Mẹ mặc áo dài vào, con muốn chụp một bức ảnh để khoe với bạn bè." Với tay nghề cực siêu của nó, dùng điện thoại, nó chụp cho mẹ một bức ảnh mà nhìn vào tôi nghĩ ngay đến một tên tội phạm đang ôm bằng chứng phạm tội ở cơ quan điều tra:





  

Thứ Ba, ngày 15 tháng 7 năm 2014

CON KHÔN.


  Khi dượng nhặt được nó trong đám rác hôi thối, nó gần như kiệt sức. Thoi thóp trong chiếc túi bóng, nó không thể kêu được nữa. Chắc người ta sợ nó chết trong nhà vào đầu tháng thì bị xui nên vội vứt đi. Nó cố thở gấp gáp, nhận chút không khí cuối cùng nơi dương thế, một thứ không khí ô nhiễm đến đậm đặc bởi mùi thức ăn ôi thiu, mùi xác chuột chết, mùi lông gà lông vịt, mùi phân chó…Nhưng cũng may cái túi bóng cột nó không đến nỗi kín, nên phổi của nó vẫn làm việc được. Dượng  cúi xuống, nâng nó trên hai bàn tay xù xì mà xuýt xoa: “Tội nghiệp, mày nằm cả đêm giữa trời mưa lạnh thế này ư?”.
  Thấy dượng đưa về một con chó ướt rượt, nhớp nháp, gầy còm nhom tưởng như nhìn  được cả lục phủ ngũ tạng qua lớp da bụng xanh lét, mỏng tang đang phập phồng, o đâm hoảng. “Mồng một đầu tháng, ông rước nó về để nó chết trong nhà mình sao? Rõ dở người.” “ Nó còn sống bà ạ. Nếu có chết cũng để nó chết sạch sẽ một chút.” Dượng nói chầm chậm, đếu đều, nhưng o biết dượng sẽ không  đổi ý mỗi khi đã quyết.
 Dượng ủ ấm cho nó trong chiếc chăn chiên cũ, đặt cạnh bếp lò nấu rượu.
Gần trưa, nó có vẻ tỉnh, cặp mắt lồi to của nó không nhắm nghiền lại nữa mà đã mở ra, mỏi mệt. O đổ cho nó ít nước cơm, nó nuốt được vài thìa rồi nhắm mắt, cổ  ngoẹo xuống, thở…Dượng lấy lọ dầu nóng, đổ ra lòng bàn tay, xoa đều vào bụng nó, xoa cả lưng, cả cổ, cả mặt nó nữa. Nó kêu lên một tiếng yếu ớt rồi nằm im. Chiều, o quấy ít cháo loãng, đổ tiếp được vài thìa, cu cậu đã lấy lưỡi liếm liếm giọt cháo đổ vương bên mép. Dượng nghiền mấy viên B1 với hai viên béc- be- rin, hòa nước cho nó uống. Đêm mồng một trôi qua, nó vẫn sống.
  Ngày hôm sau, nó đã lồm cồm ra khỏi chiếc chăn, vẹo vọ đi lại liếm liếm gót chân o khi o đang ngồi chà men rượu. Dượng vừa đi nhập rượu về, thấy thế,nhấc nó lên, cười khà khà: “Mày sẽ sống, chắc chắn thế. Phải sống chứ, đúng không?”
  Hai o dượng chăm nó chẳng khác chăm một đứa cháu nhỏ ốm đau. Cháo loãng rồi cháo đặc, thuốc uống rồi thuốc tiêm.  Nó cũng đã chạy loăng quăng trong nhà, quấn chân o khi o nấu rượu, theo chân dượng khi dượng quét dọn chuồng gà chuồng lợn. Nhưng cái tật tè bậy, ị vô ý thức làm nhiều lúc o điên tiết lên. Ai đời thẩu men o vừa chà xong, chưa kịp rắc lên cơm rượu thì cu cậu ghếch chân…tương vào một bãi khai rình. Hay có hôm, nhà vừa lau sạch bong, cậu tướt luôn một bãi phân tanh rích. Dượng  chậm rãi: “ Nó chưa khỏe hẳn, đừng đánh nó mà tội.”. O nghĩ đến đứa cháu nội hồi trước, ốm đau dặt dẹo mấy năm vì bệnh gan bẩm sinh rồi mất, nước mắt o chảy ra, o lại thương nó mà không nỡ đánh.
  Được hơn hai tháng, nó đã thay đổi hẳn. Vóc người cân đối, lông đen nhức, mượt mà. Nó có đến tám cái móng đeo ở bốn chân , ai đến cũng xuýt xoa, ông bà có con chó trông tướng thế, chó có tám móng đeo là khôn lắm đấy, ông bà sẽ phát phú quí đấy. Dượng cười khà khà, lương hưu hai ông bà mỗi tháng bốn triệu hai, nuôi lợn nuôi gà tháng trồi tháng trụt trong khoảng triệu hơn triệu kém, muốn phát phú quí may ra được viên đá đỏ bằng cái ấm tích. Hơ hơ…
  Dượng đặt tên nó là Khôn, bởi nó khôn thật. Sau khi hết bệnh, nó ngoan hẳn. Riêng cái khoản đi vệ sinh thì cấm có thấy nó bậy bạ bao giờ nữa. Cũng kín đáo, cũng ý tứ như ai. Khách đến nhà, Khôn nằm gác mõm lên hai chân trước mà quan sát cử chỉ, mà nghe giọng nói của họ. Dượng bảo, muốn xác định người gian, kẻ ngay, người tốt kẻ xấu thì chỉ cần nhìn vào thái độ của con Khôn là biết. Có người đến lần thứ hai là nó đã vẫy đuôi mừng, vừa vẫy đuôi vừa sủa vui như có ý chào và báo với chủ. Có người đến nhiều lần, ngồi cơm rượu với chủ nhiều bữa, thậm chí có cả anh em họ hàng, nhưng lúc nào đến, nó cũng sủa gay sủa gắt, chủ mắng mãi mới chịu im nhưng nó vẫn gầm ghè, lườm lườm nguýt nguýt, ra chừng có ý bảo: “Đây biết tỏng cái bụng của đấy rồi nhá, cười cười nói nói ngọt nhạt thế thôi, cơm rượu chén no say thì khoác lác ba voi thế thôi, chủ tôi mà hở mạng sườn ra là đấy lách dao vào cứa ngay ấy mà.”
 Mồng bốn Tết, o dượng về quê mừng thọ ông bà và nhờ người cho nó ăn. Suốt hai ngày, nó không hề đụng một hạt cơm cho dù bụng kẹp lép. Nó cứ nằm cạnh cổng mà chờ tiếng bước chân của chủ. O lấy cho nó một tô cơm, nó ngoạm mấy miếng hết veo. Dượng mắng nó: “Mày sợ người ta bỏ thuốc độc à? Sao không ăn?” Nó lấy mõm dụi dụi vào chân dượng, rồi dụi dụi vào tay o, ra vẻ nhớ lắm, nhớ lắm…
  Thế mà hôm sau tự nhiên Khôn biến mất. Rõ ràng buổi tối o vừa cho nó ăn cơm, vậy mà sáng mai chẳng thấy đâu nữa. Bình thường mấy khi nó ra khỏi nhà đâu. Trưa cũng không thấy nó về. O dượng đi tìm khắp trong xóm, không thấy. Thế là hết! Hai ông bà ngồi buồn xo, bữa cơm uể oải không ai muốn nuốt. Khôn ơi là Khôn, mày đi đâu? Sao mày nỡ bỏ mà đi như thế? Trong lòng dượng xót xa kêu lên như  để thầm thì với khoảng không, để nhờ luồng điện sinh học truyền đến nơi nào đó may ra Khôn nghe được, cảm nhận được mà quay về. Nhưng khi thấy o khóc thút thít thì dượng mắng át đi. Mất thì thôi, chỉ là một con chó chứ có phải viên đá đỏ đâu mà tiếc! Đang buồn mà nghe dượng nói thế, o cũng phì cười. Nửa đêm đang nằm, o bật dậy. Dượng hỏi sao thế. Tôi mơ thấy con Khôn về ông ạ, nó đói lắm. Dượng gắt, ngủ đi, rõ vớ vẩn. Thế nhưng dượng lại thở dài đánh sượt. Hai ông bà thao thức từ đó cho đến sáng.
  Mờ sáng ngày thứ ba, hai o dượng vừa dậy nhen bếp lò thì nghe tiếng thúc cổng, sợi xích khóa khua rổn rảng. O lật đật chạy ra. Khôn ướt như chuột lụt, trên cổ còn nguyên cả một vòng sắt cặp cứng như gọng kìm của bọn chuyên đi câu trộm chó. Chẳng biết bằng cách nào mà Khôn thoát được, và cũng chẳng biết nó chạy và trốn ở đâu trong hai ngày ba đêm để đói đến mềm người đi, lả người đi như thế. Chỉ biết là từ đó, mỗi khi nghe tiếng xe máy chạy rạt qua cổng, nó lại giật mình, người co rúm lại.
  Trước cổng nhà o dượng dạo này bỗng tụ tập bao nhiêu là chó. Chó đực, chó cái cứ quây lại, cắn nhau, sủa ăng ẳng. Dượng bảo mùa chó yêu nhau đấy. Nhìn thế chứ đôi nào ra đôi ấy, không lăng nhăng lộn xộn đâu. Khôn chẳng đoái hoài gì đến đám chó nhách ấy. Mặc cho ả vện kia cứ thò mõm vào mà kêu lên ư ử, mà oặn mình, mà ngoáy mông ngoáy đít làm duyên làm dáng. Đôi mắt Khôn thỉnh thoảng buồn bã nhìn sang ngôi nhà tầng đối diện. Bên đó có con Hoàng khuyển, một con chó cái với bộ lông vàng mượt, thân hình mềm mại uyển chuyển nhưng chẳng bao giờ được bước chân ra đường, chẳng bao giờ được một lần vui vẻ cùng đồng loại. Rồi luôn mấy hôm, con Khôn đến trước cổng, ghé sát vào khoảng trống của những song sắt mà nhìn vào, ánh mắt vừa thương cảm, vừa xót xa, vừa yêu thương, vừa thèm khát. Đôi mắt buồn rười rượi và cũng chan chứa yêu thương của Hoàng khuyển nhìn nó làm Khôn ngây ngất, xốn xang. Nhưng làm sao nó vượt qua được chiếc cổng đồ sộ này?  Đây là  ngôi nhà của đại gia giàu nhất  vùng . Nghe bảo phần  móng đã hết hai mươi tỉ, thiết kế theo kiểu có trục xoay, ngôi nhà ba tầng đồ sộ như thế nhưng có thể quay đổi hướng theo mùa. Bên đó hầu như chỉ có bà chủ ở nhà, vào ra lặng lẽ như cái bóng. Nói là bà chủ vì là vợ ông chủ, chứ cô ấy gần như chẳng có quyền hành gì trong ngôi nhà mình. Ông chủ dành hẳn một phòng ở tầng hai để hú hí với bồ non, một phòng ở tầng ba để thỉnh thoảng rủ bạn về bài bạc thâu đêm. Lúc đầu cô ấy cũng phản ứng ghê lắm, nhưng ông chủ bảo, không chịu được thì cô li hôn đi, để con đó tôi nuôi. Cô cay đắng nghĩ về sai lầm của mình ngày xưa, khi hai đứa con trai mắc chứng hen suyễn, ốm lên ốm xuống, chồng cô đang kì phất lên trong làm ăn, bảo cô thôi việc ở nhà chăm con. Cô đã rời xa bục giảng sau chín năm công tác. Hai con giờ đi học xa, cuộc sống cô trở nên vô vị trong sự nhàn tản. Hôm đứa học trò cũ đến nhà, lí nhí chào cô rồi õng ẹo cùng ông chủ lên gác hai, cô cũng thây kệ. Niềm vui duy nhất của cô là tối tối gọi điện cho con, hỏi han chúng đủ thứ, nghe giọng nói của chúng, biết chúng khỏe, lo học hành, thế là cô ngủ ngon.Còn Khôn thì mất ăn mất ngủ vì đôi mắt của Hoàng khuyển. Có ngày nó chỉ xoay qua xoay lại bên chiếc cổng mà chẳng thiết  ăn uống gì.Cánh cửa đóng mở bằng ấn nút tự động từ chìa khóa xe của chủ,  chỉ thỉnh thoảng mở ra  rồi đóng ụp lại ngay. Khôn chỉ biết gửi ánh mắt mình qua song sắt để kẻ đang bị giam giữ trong kia đong được nỗi niềm thương nhớ đầy vơi của kẻ ở ngoài.
  Hôm ấy, một chiếc xe con đến đậu sát bên cổng, khách bấm chuông một lúc nhưng chẳng có ai ra. Khách vừa lên xe, nổ máy quay đầu thì  Khôn vụt một cái, nhảy phốc lên mui xe, rồi từ mui xe bay phốc qua cổng, ngã đánh uỵch xuống nền gạch. Có lẽ sức mạnh của tình yêu đã nâng đỡ nó, tiếp sức mạnh cho nó. Hai bên vui mừng quấn lấy nhau, hít hít, kêu ư ử…Khi cả hai đang ngây ngất trong men say tình ái thì đột nhiên cổng mở, ông chủ xuất hiện. Nó không kịp thoát thân. Nó nhìn cánh cổng đã ụp lại, nhìn đôi mắt nảy lửa của ông chủ và biết mình sắp chịu một cơn thịnh nộ ghê gớm. Ông chủ bước vào nhà đúng lúc bà chủ bước ra trong bộ váy ngủ, đầu tóc xõa xượi. “ Thằng nào vừa vào đây?” “ Đâu có ai? Em bị nhức đầu nằm mê man giờ mới tỉnh.” “ Nhức đầu mê man hay sướng mê man?” “ Mình nói năng gì lạ thế?” “ Đừng vờ vịt nữa, con đĩ! Vết xe đang rành rành ra kia kìa. Mày mở cổng tiếp trai nên con chó kia mới  theo vào được, hết chối chưa?” Bà chủ trố mắt ngạc nhiên nhìn con Khôn đang run lẩy bẩy bên chân cổng. Đột ngột, ông chủ lấy khẩu súng săn. Đoàng! Con Khôn lao mình bay lên phía trước, chiếc cổng rung lên vì trúng đạn. Đoàng! Đoàng! Ông chủ điên tiết , những viên đạn cày lên bức tường. “ Con đĩ, mày xem đây để biết số phận của kẻ kia và cả của mày nữa.” Ông chủ lại nghiến răng, nhe đầu con Khôn bóp cò. Nhanh hơn cả đường bay của viên đạn, Khôn lao tới. Không, Khôn bay ào như một luồng gió. Ông chủ kêu lên một tiếng đau đớn, cánh tay đang cầm súng loang máu, khẩu súng rơi xuống phát ra một tiếng lạnh người. Bà chủ luống cuống bấm nút. “ Ra đi, Khôn!” Tiếp sau Khôn là Hoàng khuyển, cả hai phóng vụt qua cánh cổng đáng sợ vừa đúng lúc o dượng và mọi người chạy đến.
        
                                     Quỳ Hợp, 15/7/2014
( Hì, đã sửa lại đoạn kết theo gợi ý của anh Hồ Quốc Thái)
 

 

  
  

Thứ Hai, ngày 07 tháng 7 năm 2014

LẠC QUÊ.



Nơi này quán chị ngày xưa
Thanh kẹo lạc, ấm chè vừa om xong.
Khách quen sau buổi làm đồng
Mời nhau bát nước chè xanh thơm lừng.
Chuyện cấy hái, chuyện vợ chồng
Chuyện nhà chuyện cửa làng trong xóm ngoài.
Bụi tre kẽo kẹt đưa nôi
Lá tre già cứ rơi rơi nhẹ nhàng.

Hôm nay tôi đứng ngỡ ngàng
Đường bê tông, lối dọc ngang kín tường.
Còn đâu nữa bụi tre làng
Còn đâu quán nước vẫn thường dừng chân?
 Nhà hàng, quán xá mọc lên
Quay trong tiếng nhạc xập xình sớm trưa.
Tôi đi, lòng bỗng nghi ngờ
Hay mình đã lạc mất quê của mình?
                             7/7/2014
                                  Nhật Thành



Thứ Ba, ngày 01 tháng 7 năm 2014

TỪ CHUYỆN CHẲNG CÓ GÌ

NHỊN! ( Nhan đề đặt lại theo ý của Lộc Vừng)
               Truyện ngắn của NT
Nó về đến nhà, quẳng chiếc cặp to tổ bố ra ghế rồi vào thay đồ. Nhìn bộ đồng phục tã tượi của con gái, mẹ nó hốt hoảng:
-         Lại gây sự với đứa nào rồi hả con? Trời ơi là trời! Đến bao giờ thì mày hết làm khổ mẹ vậy hả trời?
Nó im lặng, lấy chiếc lược cào soạt soạt lên mái tóc, dường như nó muốn trút giận bằng việc dứt đứt mớ tóc rối bù của nó. Cái đuôi tóc xác xơ, vàng khè như đuôi bò đã được cột lên sau mấy phút bị tra tấn không thương tiếc.
-         Mày lại  đánh nhau với đứa nào?
-         Đánh nhau với đứa mất dạy.
-         Đứa nào?
-         Thằng Nam “trọc”.
-         Vì sao?
-         Nó chửi con là đồ bê đê.
-         Trời ơi là trời, mẹ đã bảo mày rồi, là con gái phải biết nhịn, phải biết nhịn, nhớ chưa?
-         Tại sao con gái lại phải nhịn? Nhịn như mẹ nhịn bố chứ gì?
-         Mày ăn nói với mẹ như thế hả?
 Mẹ nó hét lên. Mẹ nổi khùng. Mẹ vơ cây chổi nơi góc nhà quật túi bụi vào chân, vào tay, vào vai, vào mông nó. Mẹ như điên lên, vừa quật nó liên hồi vừa hét lạc cả giọng,  đồ mất dạy, đồ láo lếu, tao đánh cho mày hết láo lếu! Chân tay nó bầm tím, nhiều chỗ rớm máu. Nhưng nó không tránh đòn của mẹ. Nó cũng không khóc. Nó trơ ra, lì ra như một khúc gỗ, như một tảng đá. Mẹ quẳng cây chổi đã gãy toe toét rồi ngồi ôm mặt khóc tấm tức, đôi vai gầy rung rung… Nó nhìn thân thể gầy còm, xác xơ của mẹ, lòng nhói lên vì thương và cả vì giận, nó thương cuộc đời cơ cực của mẹ, nó giận sự cúi đầu nhẫn nhục của mẹ. Và nó cứ ngồi chết trân trên ghế với những suy nghĩ rối bời…

  Hai chị em nó cùng bố cùng mẹ đấy, sao mà khác nhau như mưa với nắng, như trắng với đen, như nước với lửa. Chị nó trắng trẻo,  xinh xắn, ngoan ngoãn lại học giỏi. Còn nó, cứ y như một cục đất nung. Ngay từ khi mới lọt lòng, mọi người đã gọi nó là Bao Chửng, chỉ thiếu mỗi cái sẹo hình mặt trăng đầu tháng trên trán. Lên ba tuổi, ai hỏi nó, nó cũng tự xưng là con trai, bảo chim của cháu sắp mọc rồi, chỉ ít lâu nữa là cháu thành con trai thôi, không cần làm con gái. Nó vạch quần, ưỡn bụng vào bức tường và tiểu vào đó như bố nó vẫn làm. Nước đái chảy ướt đầm đìa cả quần, mẹ mắng nó, nó bảo hãy đợi đấy, ít lâu nữa sẽ có vòi dài ra, không ướt quần nữa. Chẳng bao giờ nó chịu để tóc dài như lũ con gái lắm chuyện kia, cứ  ba phân, chẳng nhọc công gội đầu chải tóc. Hàng xóm bảo bà mụ vắt nhầm cái ấy của nó. Mẹ phân bua, chắc là khi mang thai, tôi cứ ước con trai nên bây giờ tính khí nó như thế.
 Vào lớp Một, nó nghịch ngợm, ngổ ngáo nhất lớp, và cũng học dốt nhất lớp. Vở viết tờ sau thì xé tờ trước gấp máy bay. Nó học xong lớp năm, cô giáo tiểu học lắc đầu, chị về nhà bảo ban cháu thêm đi, ở lại lớp thì nhà trường không cho phép, ảnh hưởng đến phổ cập chị ạ, phải cho lên lớp sáu thôi, nhưng cháu đọc chưa thông, viết chưa thạo. Mẹ hết mắng lại dỗ dành, mẹ đưa chị ra làm gương, nó cãi, chị khác, con khác, chị học trước con, lớn hơn con thì giỏi hơn chứ sao. Mẹ phân bì với những đứa bạn trong lớp nó, nó lí lẽ, đi học thì có người giỏi người dốt, chẳng lẽ ai cũng giỏi cả. Tại sao bố các bạn giỏi làm ăn, giỏi kiếm tiền mà bố mình thì chẳng làm được việc gì nên hồn, sao mẹ không khuyên bố đi, sao mẹ phải nín nhịn bố mãi thế. Thế là nó lại ăn đòn, đau thì đau nhưng nó không sợ, nó bảo nó nói đúng. Đánh nó xong, mẹ lại khóc.
   Nó học không vào. Cái đầu nó chữ vào thì khó mà ra lại dễ. Đi học về, mẹ hỏi hôm nay con học bài gì, có làm được bài tập không? Nó thủng thẳng đi vào nhà, quẳng chiếc cặp tơi tả ra bàn rồi lại thủng thẳng trả lời, học bài gì thì ai mà nhớ nổi, mỗi buổi học bốn, năm môn  chứ có phải một môn đâu. Nhớ chi cho tổ mệt óc! Nó không muốn nhớ ba cái chữ, cái số lằng nhằng rối rắm ấy, nhưng những chuyện trong gia đình thì nó nhớ kĩ lắm, nhớ dai lắm.
 Bà ngoại bảo mẹ chịu nhịn bố từ khi mới về ở với nhau kia. Hễ khi có chuyện vợ chồng cơm chẳng lành canh chẳng ngọt là bố nó lại chì chiết: “ Mày cậy ở gần ngoại, cậy cái nhà rách bên ngoại cho nên coi khinh chồng chứ gì? Mày khinh tao là “chó chui gầm chạn” chứ gì? Thì đấy, tao sẽ đi cho khuất mắt.” Dọa thế thôi, bố mà đi được đâu. Nghề ngỗng không có, lại chê việc nhà nông chân lấm tay bùn, nắng cháy mặt mưa xối đầu, thu nhập chẳng được cái quái gì ngoài ba hạt lúa rẻ như bèo. Bố ham vui bạn vui bè, bảo vay tiền để đi làm ăn, cuối cùng mẹ lại nai lưng ra trả nợ, vay mượn từ chiếng, vay mượn quanh năm để trả nợ. Mẹ có kêu ca rên rỉ thì bố lại bảo, thế mày giỏi thì tự làm mà nuôi chồng, tao không đi nữa. Và bố nằm ườn ra thật, mặc mẹ luật quật hết việc nọ đến việc kia.
Nó nhớ  khi nó lên bốn, hai chị em suýt mất mạng vì một tảng đá to đùng sau núi lăn xuống,đè nát tấm phên, xộc thẳng vào gian giữa, làm gãy tan tành cái bàn kê giữa nhà. May mà mẹ kịp lao đến, hai tay kéo xềnh xệch hai đứa đang ngơ ngác chưa biết chuyện gì xẩy ra. Người ta nói trời phạt bố nó đấy. Ai đời tấm gỗ đặt làm nơi thắp hương mà dỡ xuống. Dỡ làm gì? Để bán lấy mấy chục bạc, rủ cái ả mới dựng quán cắt tóc đầu làng kia đi xem phim. Thế mà mẹ vẫn nhịn được, mẹ không dám nói gì. Có nói thì cuối cùng cái sai vẫn thuộc về mẹ. Mẹ không đẻ được con trai, bố chán đời, bố chán cái gia đình này, bố phải tìm niềm vui để khuây khỏa.
 Mẹ bảo bố, chịu khó làm ăn mà nuôi con chứ. Bố gắt mẹ, con gái là con người ta, con người ta thì nuôi vừa thôi, học hành vừa thôi, uổng công. Bố lấy cớ mẹ không biết đẻ để tự do đi hết chỗ nọ đến chỗ kia , hết cặp với ả  góa chồng này lại tán tỉnh ả quá lứa nọ. Bố bảo bố có số đào hoa, toàn được đàn bà bao. Bao ăn, bao ngủ. Bố hứa hẹn đủ thứ trên trời dưới đất để nhử họ. Cũng như hồi trước bố nhử mẹ bằng những lời có cánh, anh sẽ không bao giờ để em phải khổ. Để rồi sau đó, khi chị đã nằm trong lòng mẹ được ba tháng thì bố lặn mất tiêu. Ông bà ngoại tìm đến nhà, bên nội bảo, nó là cái thằng trời đánh, nó gây bao nhiêu cơ cực cho cha mẹ , nó lông bông lang bang hết vào Nam rồi ra Bắc. Giờ chúng tôi cũng bất lực với nó rồi. Hai tháng sau, bố nó lù lù trở về rồi ở riệt nhà ông bà ngoại của nó. Thương con gái, ông bà đành gánh cái nhà ngang ra mảnh đất bên chân núi này, đó là nơi mà chị và nó đã ra đời.
 Nhưng bố thì vẫn chứng nào tật ấy.  Đi chán, bố lại về. Mẹ bảo, thôi thì để con còn có bố mà gọi.
   Nó cũng đã phải nhịn nhiều rồi chứ, mẹ đâu có biết. Cô giáo nhắc nó, mắng nó cái tội cuối năm rồi vẫn chưa nộp tiền các khoản qui định, nó im thít, cúi đầu nhận lỗi. Nó học dốt, nhưng cũng còn những đứa khác dốt như nó, vậy mà chúng vẫn được học sinh tiên tiến.Nó vẫn biết thế là không công bằng, nhưng vẫn im lặng nhịn đấy thôi. Bố mẹ chúng biết cách quan tâm cô, biết đều đặn thăm hỏi cô những ngày lễ tết. Mẹ nó đã bao giờ hỏi thăm cô một câu đâu. Học giỏi như chị nó thì chẳng nói làm gì, nhưng con học dốt thì bố mẹ phải giỏi …thay cho con chứ.
   Nó chúa ghét cái gọi là đi học thêm. Học trên lớp có đứa  ngủ gà ngủ gật vì thức khuya lượn trên “Phây”, có đứa  nói chuyện miệng cứ như tép nhảy, cô nhắc chán không được cũng thôi, nếu có nóng nảy mà cho chúng một cái tát là chuyện to đấy, có những đứa im lặng, mắt nhìn lên bảng nhưng hai tay đặt dưới ngăn bàn cứ nhoay nhoáy nhoay nhoáy, tin nhắn điện thoại  không đứt đoạn bao giờ. Thế mà lại đua nhau đăng kí học thêm. Thật vớ vẩn! Thật vô tích sự!  Nó ở nhà đi làm với mẹ. Có nó, mẹ đỡ vất vả hơn nhiều. Những việc nặng nó cứ làm hùi hụi như con trai.  Mà cũng cần quái gì học thêm, đằng nào mà nó chẳng lên lớp, học dốt mấy cũng phải lên lớp, ai cho ở lại. Thế nên bây giờ, nó nghiễm nhiên là học sinh lớp 11 rồi đấy. Sang năm hết 12, nó sẽ đi kiếm việc làm. Cùng ra thì đi vào Nam làm ở công ti giày da xuất khẩu, nghe bảo trừ tiền ăn tiền ở rồi, hàng tháng cũng để ra được một đôi triệu gửi về cho mẹ. Thế cũng tốt chán. Chị nó đấy, học giỏi, lại nhè cái ngành sư phạm mà thi làm chi cho khổ. Chị muốn thi vào Ngân hàng, nhưng mẹ bảo học sư phạm cho đỡ tốn tiền học phí. Chị ngoan ngoãn nghe lời mẹ, đâu có chuyện cứ động tí là cãi lem lẻm như nó. Ngày chị đỗ, mẹ ra sau nhà ngồi khóc. Mẹ thương chị, mẹ lo không đủ tiền trang trải việc học của chị. Bố nhân cơ hội chị đỗ đại học thì mời thêm mấy người bạn , bảo mẹ đi chợ làm vài mâm ăn mừng. Bạn của bố toàn mấy tay nát rượu, khề khà chén chú chén anh, ba hoa phét lác mãi đến gần tối, mất tong của mẹ gần triệu bạc. Có ai mừng cho chị đồng nào đâu.
 Chị học đại học, mẹ càng gầy ngẳng như que củi khô. Có tiền vay vốn sinh viên rồi mà vẫn thiếu trước hụt sau, vẫn nợ chồng lên nợ. Nó cũng biết nhịn đấy chứ, Nó đâu dám đòi mẹ mua sắm áo mua quần, mặc thừa mấy bộ của chị cũng xong. Lên cấp ba, nó cũng nuôi tóc, cái đuôi tóc loe toe ra được nửa lưng. Dây cột tóc có vài nghìn nó cũng nhịn nốt. Nó xin chị thợ may mảnh vải thun rồi về may thành dây cột tóc. Cần quái gì đẹp. Đã bao giờ nó có ý nghĩ làm đẹp. Chị nó vẫn bảo, con gái phải chú ý hình thức một chút, xấu quá không ai nhìn. Không ai nhìn thì thôi, quan trọng gì! Chị nó xinh lắm, vừa đi học vừa làm thêm, vất vả thế nhưng vẫn nõn nà, vẫn tươi rói chứ đâu phải một cục đất nung như nó. Xinh  nên lắm người nhìn, lắm người theo đuổi. Vậy mà kết luôn một anh trung cấp cơ khí mới dở! Ra trường, chưa xin được việc làm, bên nhà trai đã đòi cưới, anh rể bảo cưới thôi, để lâu rách việc. Chẳng biết cưới thì lành việc chỗ nào, không rách chỗ nào, nhưng chị chưa xin được việc làm. Trước đó mẹ đồng ý cho cưới vì nghĩ bên nội sẽ lo xin việc cho chị, mẹ kiếm đâu ra hàng trăm triệu để kiếm một chỗ cho chị  đứng trên bục giảng? Giờ thì chị đang tạm gác ước mơ làm cô giáo để ngày ngày dạng háng ngồi tráng bánh đa nem, nghề gia truyền  bên nhà chồng. Có thể chị sẽ còn ngồi như thế một năm, hai năm, hay cả cuộc đời? Bố chì chiết mẹ, bố chửi, cho nó đi học làm gì, tốn bao nhiêu tiền rồi cũng chỉ lấy chồng, đẻ con. Không cần học cũng lấy chồng đẻ con được. Giờ nợ sinh viên ai trả, trả đến bao giờ cho xong? Làm như là bố có trách nhiệm với gia đình lắm ấy. Vay bao nhiêu bố đâu có biết, lúc nào đến hạn bố đâu có hay. Bố chỉ nói cho có cái để chửi mẹ thôi. Cứ rượu vào là bố chửi, bố phá đồ đạc. Những gì vỡ được đã vỡ, những gì gãy được đã gãy tan tành.  Bố lè rè cả ngày, hàng xóm bảo mẹ là người có thần kinh thép mới chịu được bố. Thế mà mẹ cứ nhịn, cứ nhịn. Cứ như thể kiếp trước mẹ nợ nần gì bố. Người ta “gánh cực mà đổ lên non”, mẹ gánh đi đâu mà đổ hả trời?
    Nó nhìn mẹ, nó muốn nói với mẹ rằng, mẹ à, nếu con có thể gánh được cơ cực cho đời mẹ, mẹ cứ trút sang con đi. Chao ôi, giá như con được là Bao Thanh Thiên, mẹ nhỉ?
Nhưng nó vẫn ngồi trơ ra như thế.
                                                                                                                            30/6/2014

 (Đã sửa lại phần đầu theo góp ý của lão Tan và nhà thơ Quang Thứ)


Thứ Hai, ngày 30 tháng 6 năm 2014

ĐÔI LỜI CÙNG BẠN BLOG


Trong năm học, bận rộn với việc trường, việc nhà, chẳng mấy khi tôi có thời gian để viết lách. Thường thì đêm khuya, khi  con học bài xong tôi mới ngồi lẩn thẩn gõ những ý tưởng của mình, cũng chỉ là để giãi bày, để trải lòng,  để tự mình tâm sự với cuộc đời mình là chính. Và tôi cũng nhằm mục đích như blog của OM: “viết cho khỏi quên chữ”.
  Tôi lập trang HƯƠNG NGÀN từ ngày 17/12 /2012 cho đến hôm nay ( 30/6/2014) là gần mười tám tháng rưỡi. Nhiều lần đóng rồi mở ( như tính khí thất thường của đàn bà vậy thôi) nhưng tôi vẫn cố nán đến ngày blog spot đóng cửa ( Nghe đâu tháng 7 này?)
  HƯƠNG NGÀN có tám mươi ba bài viết tất cả, trong đó có 27 truyện ngắn (là đam mê của tôi), còn lại là những tâm sự vẩn vơ qua mấy vần  thơ con cóc, hay những lời kể như cuộc trò chuyện đời thường của mỗi chúng ta hàng ngày. Thỉnh thoảng tôi kể câu chuyện vui  nhặt được ngoài đời chia sẻ với bà con.
  Thời gian eo hẹp, tôi viết chật vật, có khi một truyện ngắn viết cả tuần mới xong. Nhưng quan trọng là được giao lưu với mọi người, được đọc những bài viết thú vị và bổ ích của bạn bè gần xa.
  Hè này, trong dự định, tôi sẽ hoàn thành nốt vài truyện ngắn dang dở. Thế nhưng lại gặp mùa World cup. Tôi không mê bóng đá, nhưng hàng đêm, tiếng ti vi, tiếng hô hét, cả tiếng chửi thề tục tĩu của tụ điểm xem bóng cạnh bên làm tôi mất ngủ. Tôi cũng chẳng thể tĩnh tâm để viết được gì. Bực mình, tôi kể về  CÚ SÚT NHẦM TAI HẠI. Kể cho vui là chính, vui nhưng lại có chút nanh nọc, đáo để. Thực ra thì câu chuyện ngoài đời đáng buồn hơn, vì gã đàn ông “con rể” kia sau một thời gian dài cặp bồ với người phụ nữ góa lại chiếm luôn cả đứa con gái mới lớn của nhân tình. Bi đát hơn, hai mẹ con trở thành tình địch của nhau. Gã kia được thể “đục nước béo cò”.
 Ôi đàn bà chúng tôi! Xót xa thay! Nhục nhã thay!
  Nhưng câu chuyện CÚ SÚT NHẦM …tôi đã làm nhẹ đi, mang tính hài hước. Tuy nhiên, tôi nghĩ đó cũng đủ để nhắc nhở những ai đó đừng…nhầm.
 Có một bạn nặc danh nào đó bảo: “ Đọc văn hiểu người” “ Đọc bài đoán được chủ nhà là kẻ đa dâm”. Chà chà…chẳng biết bạn ấy là đàn ông hay đàn bà, nhưng xin nói với bạn: Đàn ông đa dâm thì tổn thọ, đàn bà đa dâm thì trẻ lâu. Đàn bà nào đa dâm được như Võ Tắc Thiên thì trẻ dai như vị vua ấy hoặc như Lưu Hiểu Khánh ngày nay vậy. Tôi cũng muốn thế nhưng trời không cho đành chịu. Có lẽ cái “dâm” của tôi chỉ đủ cho người tôi yêu mà thôi. Trong blog HƯƠNG NGÀN còn có thêm một số bài viết khác cũng kể hài hước chua cay về lĩnh vực này ( như XÃ GIAO, BÁN TÌNH  chẳng hạn). Và cũng xin nói thêm rằng, những câu chuyện kiểu như XÚT NHẦM, XÃ GIAO  ngoài đời chúng tôi vẫn thường kể trong các cuộc vui hay trong các đợt đi tham quan phải ngồi trên xe đường dài. Kể xong, cả người kể và người nghe đều cười ngoác miệng, chẳng ai đánh giá ai là “dâm” hơn ai cả.
  Vào blog là để chia sẻ, để học hỏi, để có được những niềm vui trong cuộc sống chen chật này. Tôi vốn thích đùa và cũng không bao giờ tự ái khi người khác đùa lại một cách dí dỏm nhưng có văn hóa. Ai vào blog HƯƠNG NGÀN cũng có thể trêu ghẹo tôi thoải mái kiểu như thế, chẳng sao cả. Nhưng xin đừng nói những lời xúc phạm làm tổn thương nhau. Rất ít khi tôi xóa lời chia sẻ của mọi người dù là khen hay chê bài viết của mình. Nhưng lần này tôi đã xóa 2 lời com của bạn nặc danh. Và có thể tôi sẽ làm tương tự trong những lần sắp tới.
 Hôm nay hơi bức xúc, gõ mấy dòng, nếu phiền mọi người thì tôi xin được lượng thứ.


Thứ Hai, ngày 23 tháng 6 năm 2014

CÚ SÚT NHẦM TAI HẠI!


Từ khi có “Ăn cắp” 2014 đến nay, xóm tôi xẩy ra bao nhiêu chuyện vừa buồn mà lại chỉ biết cười! Vậy nên mới nói là …buồn cười.
Thời buổi nay, nhà nào chẳng có một vài cái ti vi trong nhà, nhà nào chẳng có truyền hình cáp. Cớ sao các ông lại phải tập trung lại một chỗ để hò, để hét, để cãi vã ỏm tỏi cho cái trò nhố nhăng, dở người là hai hai người tranh nhau đá vào một quả bóng?  Mỗi đêm ba trận, sao các ông vẫn hào hứng, vẫn hồi hộp, vẫn háo hức, vẫn hớn hở như mới vào trận đầu trong đêm tân hôn  với cô vợ mới cưới? Tôi hỏi một mày râu vì sao lại thích bóng đá, gã bảo cái thú vị ở chỗ mình  phải giữ khư khư cái lỗ nhà mình để không cho thằng nào chọt vô, còn mình thì tìm mọi cách để chọt vô lỗ nhà người khác. Chọt được quả nào sướng quả đó. He he…
Có "ĂN CẮP" , cánh mày râu tập trung ăn uống, đánh bài, xem bóng thâu đêm. Vui chơi có thưởng mới gọi là vui. Thế là không chỉ đen – đỏ trong cá cược bóng đá mà còn đen- đỏ trong những hội bài.
Thủy điên tiết lên, Thủy dẫm chân dẫm cẳng, Thủy hờn dỗi bỏ về nhà mẹ đẻ vì thằng chồng trời đánh chỉ biết có bóng và bóng, bỏ cô vợ mới cưới nằm suông cả tuần nay.
Sau mấy hội bài bị thua trắng tay, Cang (chồng Thủy) bực dọc đứng dậy, quyết định về nhà “giải xui” đồng thời làm lành với vợ.
 Chẳng cần bật đèn, Cang cũng vào đúng chiếc giường ấm áp của hai vợ chồng. Thấy vợ nằm quay mặt vào tường, Cang ôm ngang người, thủ thỉ: “Giận à?” Không trả lời. “ Yêu nhé?” Vẫn im lặng. Thôi, em cứ ngủ đi, để mặc anh với nó. Cang nghĩ thế và vào trận háo hức như một tiền đạo đang có bóng. Đối phương đã thức giấc và quyết liệt chống cự. Hành động ấy của đối phương làm Cang hào hứng hơn trong cuộc chơi. Sút mấy quả liên tiếp cực mạnh vào khung thành, Cang nằm vật ra, thoải mái tận hưởng cảm giác sung sướng cực độ của một cầu thủ sau khi làm bàn.
Bật đèn, dậy uống nước Cang hốt hoảng nhận ra: “Trời ơi! Mẹ vợ!”
Thì ra, thấy con gái bỏ về, mẹ lo nhà cửa nó bỏ không thế thì nguy.
 Nằm không ngủ được, mẹ lồm cồm dậy và đến nhà con gái ngủ để…giữ nhà. Ôi, chẳng biết đây là cú sút phản lưới…nào???

(Hì…câu chuyện thật đấy. Thật như Mỹ và Bồ hòa 2-2 vậy. Người viết chỉ thay tên nhân vật thôi.)





Thứ Sáu, ngày 06 tháng 6 năm 2014

OẢNH

            (Truyện ngắn của Nhật Thành)
    Mỗi sáng, theo lệ thường, lão Cho quét chợ xong  trở về thì thấy Oảnh cũng đã dậy, chui ra khỏi lều. Sau khi trật quần  khoe bộ mông trắng lốp,đái xòe xòe vào đống rác góc chợ, Oảnh ỏn ẻn cười với lão rồi hấp háy đôi mắt him him, đi cà nhắc đến giếng nước, múc một gàu, ngửa cổ tu một hơi dài rồi cứ thế dội luôn phần nước còn lại vào mặt, chảy xuống cổ, ướt rượt bộ đồ nhàu nhĩ, hôi hám những mùi bùn, mùi phân , mùi rác thải…Nhưng hôm nay lão Cho thấy im ắng lạ. Lão phân vân. “Trời động bão hay sao mà nó ngủ trưa thế?”. Đập đập cán chổi vào bức vách bằng cót ép, lão gọi:
-         Oảnh, dậy đi!              
Vẫn im ắng. Lão ngó vào. Một cái xác nằm còng queo với khuôn mặt nhăn nhúm thể hiện trạng thái cực kì đau đớn. Hai chân rối vào nhau, tim đập loạn xạ, lão Cho cuống quýt chạy tới nhà xóm trưởng.
 Giờ thì cái thân xác ấy đã được đặt ngay ngắn trong cỗ quan tài đỏ chót vừa được bà con quyên tiền để mua.
Trống, kèn, phèng la cũng đánh, cũng thổi, cũng khua đúng nhịp, đúng bài như bao đám ma khác trong làng xưa nay.
Đám thanh niên đi đào huyệt cũng đã về, chuẩn bị sẵn sàng đưa Oảnh ra đồng.
Chỉ có điều khác: đám ma được tổ chức ngay sân hội trường xóm và tuyệt nhiên không có tiếng khóc ai oán nào.
Chỉ có điều khó: ông Túy đang loay hoay không biết làm sao viết được điếu văn.
Chỉ có điều băn khoăn: chẳng biết Oảnh tuổi gì để chọn giờ đưa đi cho mát mẻ.
   Người ta đoán già đoán non, Oảnh khoảng cỡ hai lăm trở xuống.
Khi Oảnh xuất hiện ở cái làng nhỏ này thì nó mới là một đứa trẻ đâu khoảng mười ba, mười bốn gì đó. Một cái áo đàn ông rộng thùng thình, bê bết bùn đất, dài lút lít tận đầu gối. Phần chân lòi ra gầy ngẳng và loang loang những vết sẹo to nhỏ, dài ngắn khác nhau. Trên cái cổ là những hình ảnh mà ai trông vào cũng lập tức quay vội đi, nhổ một bãi nước bọt vì…kinh khiếp!
Nơi hai khóe mắt him him tú ụ những cục ghèn, điểm hấp dẫn của đàn muỗi mắt, ruồi…bay lên đậu xuống. Hai nhúm lông mũi thò ra, bết lại vì thứ nước sền sệt từ trong hai lỗ mũi chảy xuống cái miệng  lúc nào cũng há hốc cho nước dãi nhể  từng dòng, từng dòng xuống cổ.
 Oảnh xuất hiện, và bám riết lấy nơi này như là số trời bắt thế. Oảnh sống vạ vật với vài củ khoai, bát cơm nguội hay có khi là miếng sắn, bông ngô người ta thương tình đưa cho. Có khi sáng ra người ta thấy Oảnh ngủ ngay cửa chuồng trâu nhà này, có khi lại lăn quay ra ngáy khò khò ở dưới giàn mướp nhà kia. Và từ khi có Oảnh, đám trẻ con trong làng có thêm một trò tiêu khiển mới: chúng chạy theo, hò hét, ném đất đá, que lẻ, phân bò khô …vào người, vào chân Oảnh và cười khoái chí vì trúng đích. Có nhiều hôm, bị đá ném trúng chân, máu chảy be bét, Oảnh khóc để chúng lại cười. Rồi đôi chân Oảnh  lại thêm những vết sẹo mới. Bị người lớn quát nạt, bọn trẻ có dãn ra được một thời gian rồi cái thói nghịch ranh lại trỗi dậy. Nhè khi Oảnh chỉ có một mình, chúng lấy dây thừng trâu, cột vào chân Oảnh, một đứa kéo, mấy đứa cầm roi quất vào người Oảnh như quất trâu: “ Đi, đi nhanh!”. Chúng chạy, Oảnh cũng phải chạy theo. Bất ngờ sợi dây vướng vào gốc cây, Oảnh ngã đập mặt xuống, mũi dập rớm máu. Nhưng nguy hại nhất là chân Oảnh không bước được nữa. Thấy Oảnh khóc tu tu, chúng bỏ chạy vì sợ người lớn biết. Cũng may nhờ thuốc nam của bà Riêm, Oảnh đi lại được nhưng từ đó cứ cà nhắc như kẻ thọt chân.
 Cũng có thể từ sau tai nạn ấy mà bọn trẻ con thấy có lỗi và không trêu chọc Oảnh nữa. Nhưng cũng còn lí do quan trọng hơn: bọn trẻ bây giờ không còn thời gian rỗi rãi  của những buổi chăn trâu để tha hồ tụ tập, bày trò nghịch dại.
   Theo chủ trương của huyện, làng được nhập vào Thị trấn. Và thế là, một thung lũng rộng mênh mông mấy chục héc-ta nằm giữa bốn bề núi rừng trùng điệp trước đây lúc phủ màu xanh đậm đà của lạc, lúc dạt dào màu xanh mơn mởn của ngô, của lúa nay ồn ào tiếng máy cắt, máy mài, máy xay đá. Tiếng máy gầm gào, tiếng mìn đinh tai nhức óc để những ngọn núi cứ trắng nhởn, cứ nham nhở và cứ thấp xuống dần. Từ dây chuyền chế biến hiện đại, những khối đá thô ráp, to sù sụ như gian nhà trở thành những phiến đá vàng, đá trắng, đá đen vuông vức, mịn màng, bóng đẹp mộng mơ theo xe kìn kìn chạy ra khỏi thung. Nghe bảo hành trình của chúng còn đến tận Đài Loan, Nhật, Đức, Ấn Độ… xa lắm. Những con người quen lam lũ trong công việc cày bừa cuốc xới “bán mặt cho đất bán cật cho trời” nay trở thành những người công nhân bất đắc dĩ trong các xưởng khai thác, chế biến đá. Những bàn chân, bàn tay bị nước đá  ăn mòn cũng trắng nhởn, cũng nham nhở như những ngọn núi kia! Lũ trẻ bần thần khi những chú trâu thân thương lần lượt từ giã chúng. Ngoài giờ học ở trường, giờ chúng phải tranh thủ đi nhặt đá dăm ở các xưởng để kiếm mỗi buổi vài ba chục tiền công.
 Nhưng Oảnh thì lại sướng! Ngày ba bữa, Oảnh lân la, kề cà nơi mấy quán phở, quán cháo, quán đặc sản mọc lên san sát như nấm sau mưa kia là tha hồ ăn ngon. Chủ quán khôn hồn thì cho Oảnh ăn để Oảnh “biến” đi mà bán hàng. Nếu không, Oảnh cứ lù lù ở đó với bộ mặt gớm ghiếc ấy thì có ma nào vào ăn cho.
 Chẳng biết vì được ăn uống đủ chất hay vì sự xuất hiện của thứ “mắc dịch” hàng tháng chảy đỏ loét từ háng xuống gót chân Oảnh  kia mà Oảnh bỗng trở nên phổng phao lạ thường! Mấy cô, mấy chị trong xóm dạo này trở nên ăn diện mốt nọ mốt kia, mấy bộ đồ lỗi mốt họ đưa cho Oảnh mặc. Trông  cũng đỏm dáng ra phết nếu sau đó Oảnh không vầy và nơi mấy đống rác hay thích chí dốc tuột thùng nước bẩn hôi hám của quán ăn cho nó chảy từ đầu xuống chân. Người hiểu biết thì bảo do những lúc đó Oảnh bị bốc hỏa trong đầu nên làm thế. Người thì chậc lưỡi: “Điên mà, biết gì bẩn hay sạch”.  Điên, nhưng nhiều lúc Oảnh cũng tình tứ lắm. Gặp đàn ông, Oảnh cười cười, rồi cũng õng ẹo, cũng liếc mắt đưa tình như ai! Gặp người vui tính trêu một câu, Oảnh gãi gãi lên mái tóc vàng hoe cứng như lông bò, bết dính đất cát mà lí nhí: “ Anh đẹp trai thật đấy!” rồi cười ngượng nghịu và ù té chạy. Có những lúc, Oảnh co ba ngón tay giữa, chìa ngón cái và ngón út giả vờ làm động tác nghe điện thoại rồi cứ thế, ngồi bệt giữa đống rác trong tiếng vo ve của ruồi nhặng mà “buôn chuyện” với một anh chàng nào đó trong tưởng tượng.
  Nhưng có một người đã lo cho Oảnh. Đó là Hinh.
 Học xong cấp hai, chán ghét những con chữ rối rắm, Hinh quyết định thôi học đi làm ăn xa. Chẳng biết anh trôi nổi tứ chiếng những đâu, cuối cùng trở về làng đem theo cô vợ già hơn cả chục tuổi nhưng nghe bảo làm ăn buôn bán sang tận Trung Quốc, giỏi giang có tiếng. Về làng một thời gian, vợ mở sạp hàng ngay chợ của xã, Hinh làm công an xóm. Nghe lời bố (hiện là trưởng phòng nông nghiệp) Hinh đi học tiếp tại trung tâm giáo dục thường xuyên của huyện. Có bằng cấp ba bổ túc, Hinh theo học để có thêm bằng đại học nông nghiệp tại chức. Có bằng đại học, Hinh trở thành một phó chủ tịch xã năng động, tháo vát. Ông chủ tịch xã bị mất chức do không đủ tiêu chuẩn về bằng cấp của cán bộ xã trong thời kì đổi mới, Hinh là người xứng đáng nhất thay vào vị trí đó. Là chủ tịch xã, lúc nào cũng comple, caravát trông rất phong độ, lịch lãm nhưng với bà con trong làng, Hinh luôn thân thiện, gần gũi và cởi mở chứ không vênh váo, kênh kiệu, hách dịch như một số cán bộ có chức có quyền khác trong xã. Một lần đến dự đại hội chi hội phụ nữ làng mình, sau khi ngợi khen truyền thống tốt đẹp và những đóng góp đáng kể của chị em trong việc xây dựng làng văn hóa, chủ tịch hạ giọng nửa tâm sự, nửa chỉ đạo:
- Muốn xây dựng làng văn hóa, trước hết phải làm cho mọi người biết sống có văn hóa. Văn hóa từ suy nghĩ, nhận thức đến hành xử hàng ngày. Và một trong những hành xử quan trọng là việc giúp đỡ nhau bằng tình cảm tương thân tương ái. Tôi thấy mấy chị em không may có chồng thiệt thân trong vụ tai nạn khai thác đá vừa qua cần được chị em ta chia sẻ, giúp đỡ nhiều hơn nữa. Riêng cá nhân tôi, tôi xin hứa sẽ tạo điều kiện đưa những chị em đó vào danh sách diện hộ nghèo để gia đình được hưởng một số chế độ hỗ trợ của nhà nước.
Dứt tiếng vỗ tay tán thưởng, chủ tịch lại hạ giọng trầm ấm hơn nữa:
 - Còn trường hợp cô Oảnh (lần đầu tiên Oảnh được gọi bằng đại từ trân trọng đến thế) tôi mong chị em trong chi hội có những việc làm thiết thực hơn để giúp đỡ cô ấy, vì dù muốn hay không, cô ấy cũng đã trở thành một thành viên của làng mình.
Mọi người ngỡ ngàng nhìn nhau rồi băn khoăn tự hỏi không biết chủ tịch nói thế là có ý gì, và giúp thì giúp thế nào?
 - Chị em ta thấy đấy – chủ tịch lại tiếp- điên cũng chỉ là một loại bệnh, người bị bệnh điên đáng thương lắm. Họ bị coi thường mà không biết mình bị coi thường. Họ khổ mà không biết mình bị khổ. Họ rất nhục mà không cảm thấy mình bị nhục.Và tóm lại, họ điên mà không biết mình bị điên.
Ừ, những lời đó chủ tịch nói đều đúng cả, nhưng chị em vẫn chưa hiểu…Chỉ đến khi chủ tịch đưa ra việc làm cụ thể thì chi hội trưởng mới vỡ lẽ  và yêu cầu thư kí đưa vào nghị quyết:
+ Cơi nới thêm một gian nhỏ cạnh lều của lão Cho quét chợ để Oảnh có “nhà” ngủ qua đêm.
+ Tập cho Oảnh thói quen về ngủ “nhà” mình hàng đêm chứ không ngủ vạ vật nơi này nơi khác.
+ Mỗi tuần thay phiên nhau tắm rửa cho Oảnh 1-2 lần, đặc biệt là vệ sinh phụ nữ sạch sẽ.
+ Giao cho lão Cho canh phòng ban đêm, không để kẻ xấu phỉnh phờ làm hại cô ấy.
Cũng nhờ thế mà Oảnh  ngày càng “sáng sủa” hẳn lên. Đặc biệt, cổ tay, bắp chân càng ngày càng tròn căng mây mẩy. Chị em tắm cho Oảnh kháo nhau: “Nhìn nó bẩn bẩn thế nhưng mông vú phây phây, chẳng độn chẳng nâng gì vẫn chuẩn không cần chỉnh.”
Đùng một cái, Oảnh có thai. Cái bụng ngày một lùm lùm rồi lặc lè như lời trách móc chị em Hội phụ nữ. Người ta nhìn lão Cho đầy vẻ nghi hoặc. Nhưng việc truy tìm thủ phạm đành đi vào ngõ cụt khi biết từ hồi 5 tuổi, của quí của lão Cho đã bị chó đớp cụt trong một lần ỉa bậy. Nay đã ngoài sáu mươi, lão vợ con gì đâu! Ôi trời, chắc lại một kẻ say, kẻ nghiện nào đó. Từ khi làng trở nên ương ương dở nông dở thị, những kẻ như thế  thiếu gì.Oảnh thì vẫn hơn hớn thế, vẫn vác cái bụng như thách thức và lân la các quán, cười vô tư như…nghé!
  Oảnh sinh, mẹ tròn con vuông trong niềm vui của chị em phụ nữ xóm. Vợ chủ tịch Hinh xin đứa con đỏ hỏn ấy cho một người bà con hiếm muộn. Âu đó cũng là một cách giải quyết hợp lí.
  Nhưng rõ khổ, chẳng biết máy móc của Oảnh “xịn” đến cỡ nào mà ít lâu sau cái bụng lại lùm lùm! Rồi Oảnh lại thanh thản hát ê a khi đứa con thứ hai cũng được vợ chủ tịch lo giùm nơi nuôi nấng.
 “ Chẳng biết thằng bố nó là ai mà trông thằng cu kháu khỉnh ra phết, mà cũng nhang nhác giống thằng đầu.” Nghe vợ nói thế, Hinh gắt: “ Trẻ con mới đẻ đứa nào chẳng giống nhau. Mà tôi biết tỏng là bà làm gì với chúng rồi đó, không qua mắt tôi được đâu.” “ Ừ thì tôi bán mười lăm triệu một đứa đó, của trời ai khôn thì được. Mà tiền tôi dùng riêng chắc?” Hinh im lặng, sửa lại chiếc caravat cho ngay ngắn rồi phóng xe đi họp.
Giờ thì Oảnh đã nằm đó, trong chiếc quan tài mua bằng tiền của bà con lao động nghèo mà tốt bụng. Thôi thì hãy kết thúc kiếp này để may ra được đầu thai sang kiếp sau Oảnh chẳng phải là một kẻ dở người như thế.
Có tiếng xe máy. Chủ tịch Hinh đang dự đợt tập huấn ở tỉnh, nghe tin, vượt 120km trở về.
Bỗng mọi người hoảng hốt, náo loạn khi chị Mai đang ngồi tự dưng mắt trợn ngược, trắng dã, tay chân cứng đờ và ngã vật ra. Ai nấy xúm đến, chưa kịp làm gì thì chị đã lồm cồm bò lết đến chân chủ tịch, giọng nheo nhéo như tiếng của Oảnh lúc còn sống, tuôn xa xả một tràng dài:
-         Anh à, sao giờ anh mới về? Anh có biết là đêm qua em vẫn chờ anh không? Em chờ để được anh ôm, riết, trườn, ngấu nghiến và lắp khít vào em! Hi hi… Anh hì hục, em quằn quại, anh thở,  em thở…Sướng, sướng quá, đúng không anh? Anh bảo em là thứ rau sạch nhất, đúng không anh? He …he…
Chị Mai lại bất ngờ lăn ra, ôm mặt khóc tu tu:
-          Sao anh không giữ con chúng mình lại mà nuôi? Sao để vợ anh bán chúng đi? Em chờ anh…nửa đêm bỗng nhiên tim em đau dữ dội…Hu… hu…
Chị Mai lại xỉu đi, mắt nhắm nghiền, miệng tiếp tục lẩm bẩm những gì không ai nghe rõ. Mọi người lặng đi trong sững sờ, sợ hãi…Vợ chủ tịch ném cái nhìn nẩy lửa mặt vào chồng mình. Ba người phụ nữ góa cùng liếc ánh mắt sắc lạnh vào vị chủ tịch hào hoa phong nhã. Hình như họ rùng mình nhớ lại những đêm hoan lạc…
Mặt chủ tịch từ xanh tái chuyển sang đỏ rần rật:
-         Điên! Chết rồi vẫn chưa hết điên! Xóm trưởng đâu? Tiến hành đưa nó đi để còn dọn dẹp hội trường cho sạch sẽ.
Xóm trưởng run lẩy bẩy nhưng cũng cố “Dạ” một tiếng rõ to.
                                                      Tháng 6/2014