Chân thành cám ơn các bạn đã đến với blogger: HƯƠNG NGÀN - Của Hồ Nhật Thành!

Thứ Năm, ngày 23 tháng 10 năm 2014

TƯỞNG...ĐÀN ÔNG SỢ VỢ LẼ!

Tối 20/10 thấy hiện trên danh bạ có bài mới của nhà thơ, nhà báo Văn Công Hùng với tiêu đề KHÔNG CÓ AI SỢ VỢ CẢ. Tò mò, tưởng đàn ông  sợ vợ...lẽ. Hóa ra là chủ yếu nói về chuyện...vô tích sự của việc sinh ra 2 ngày 20/10 và 8/3.
Xin kính thưa nhà thơ!(Hì...thưa thế thôi chứ nhà thơ Văn Công Hùng chẳng bao giờ nghe vì không biết tôi nói ở đây)
  Sau thời gian làm việc ở cơ quan, hay " buôn bán ở mom sông": buôn phổi, bán giọt mồ hôi hay buôn bán những gì có thể... để kiếm tiền nuôi chồng con, chị em chúng tôi tất bật về nhà lo chợ búa, cơm nước, lợn gà, lau chùi, quét dọn...trăm việc bà rằn. Có lẽ chẳng mấy ai phởn phơ ngồi cafe buôn dưa lê hay bốc khí lên gọi bạn bè tùm lum bia bọt, tán phét trên trời dưới đất như mấy đức ông chồng sau giờ tan sở. Vậy nên, thiết nghĩ cho chị em vài ngày trong năm được quên gia đình mà vui vẻ một chút chắc cũng không có gì quá đáng?
  Trong bài viết, nhà báo còn trích mấy lời than phiền của chị em nào đó:
Cả ngày cứ phập phồng, không biết năm nay trường có bắt đi tọa đàm 20/10 không. Liên tiếp hai ngày mất dạy ở trường nên không biết trường có thông báo gì mới không. Đắn đo mãi, gọi điện cho một cô trong tổ ''Em ơi, trường có thông báo đi tọa đàm chi không em. ''Dạ, năm nay không tọa đàm cô à ''... Hi hi thoát nạn, đỡ đau cái lưng...và đỡ chán… sao năm nay công đoàn dễ thương thế không biết. Năm nào cũng vậy, ngồi vừa mệt, vừa đói bụng, chỉ uống nước đóng chai, mà có cô vừa dạy xong 5 tiết buổi chiều, phải ở lại để tọa đàm”...

          “sợ nhất ngày 83. lại phải nghe bài ca Hai Bà Trưng và phụ nữ VN quật cường, còn ngày 20.10 thì phải nghe kể lể thành tích”.
 Xin chia sẻ với chị em mình một buổi kỉ niệm ngày PNVN của trường tôi nhé. Tôi đã tổ chức sinh hoạt như thế này cho nữ công trường tôi gần chục năm nay rồi. Mỗi kì sinh hoạt là một sự đổi mới về hình thức và nội dung để tránh nhàm chán.

    Tranh thủ tạo dáng trước khi vào chủ trì buổi sinh hoạt câu lạc bộ.



             Tôi thay mặt chị em nhận quà của Hội cha mẹ học sinh


Tiếp tục thay mặt chị em nhận quà của các giáo viên nam trong trường
( trong kịch bản không có ôm nhưng thầy phó hiệu trưởng làm sai)


Không mời được Lại Văn Sâm, tôi kiêm luôn phần dẫn chương trình cho trò chơi AI LÀ TRIỆU PHÚ. Cả MC và người chơi đều hướng lên màn hình, tôi dùng chuột điều khiển.

     Để có phần chơi này, tôi đã phải soạn ra 120 câu hỏi về chủ đề phụ nữ, chia làm 8 gói, mặc dù chỉ có 3 người tham gia chơi của 3 tổ chuyên môn.

  Sang vòng thi thứ 2 là hoạt cảnh về chủ đề BÌNH ĐẲNG GIỚI và CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH của 3 tổ.
  Mời các bạn xem hoạt cảnh của tổ tôi nhé. Trong hoạt cảnh, tôi có sử dụng bài hát cóp được bên nhà chị Song Thu.
 Hoạt cảnh dùng tiếng Nghệ nên có thể nhiều người không nghe được


Sau vòng thi diễn hoạt cảnh là thi đấu bóng chuyền. 
Cuối cùng là giao lưu bữa cơm thân mật vui nổ trời.

Và sang ngày 21/10...
Sau tiết 5, chị em lại vội vã về nhà, lại tất tả lo cơm nước, lợn gà, lau chùi, giặt giũ...cho đến ngày 8/3 năm sau!





   
   

Thứ Năm, ngày 16 tháng 10 năm 2014

THỜI GIAN

Theo cách tính của người quản lý hồ sơ công chức thì còn 3 ngày nữa, tôi đủ 48 tuổi.
  Thỉnh thoảng mẹ lại nhắc: “ Khi lọt lòng, mi nhỏ tí ti như “cí cồi lộ ngô”( nghĩa là như cái lõi của bắp ngô), mặt thì bằng ống diêm, người đầy lông, da nhăn nheo, vàng ệch.” Nghe bảo mẹ vừa gánh lúa về đến nhà thì đau bụng dữ dội. Thầy tôi đi họp ban quản trị hợp tác chưa về, bà hàng xóm chạy sang đỡ, bẻ vội que nứa nơi vách nhà cắt phăng cái sợi dây lòng thòng nối tôi với mẹ. Tôi không khóc, người cứ tím tái đi. Bà đỡ  lắc đầu. Mẹ quay mặt vào vách và khóc. Mẹ khóc vì thương chứ chưa hẳn tiếc, vì tôi là hoàng tử đái ngồi thứ tư. Thầy tôi -  người con trai duy nhất trong gia đình có 6 chị em -  đang mong một quí tử chứ mong gì tôi?
  Nếu như bây giờ, bệnh viện sẽ cho tôi vào trong lồng kính tuyệt đối vô trùng để chăm sóc. Còn lúc đó, tôi bị đùm vào miếng tã rách, đặt nơi góc bếp chờ thầy tôi về lo …hậu sự! Nhưng tôi không chịu, nên khi đốt than cho mẹ  xong, bà đỡ thấy túm vải ngọ nguậy. “Con chuột nhắt” là tôi lúc đó lại được lau sạch và đặt nằm bên mẹ.
  Mẹ  bảo, do gánh lúa nặng quá nên sinh tôi thiếu tháng. Tôi cãi: “ Do con nằm trong bụng mẹ, thấy mẹ tuồn toàn sắn cọc rào, rau má, măng rừng vào nên nghe mùi lúa mới là con chui ra.”
  Chuyện mới đó thôi, mà giờ chỉ còn có 52 năm nữa, tôi tròn trăm tuổi!
    Chuẩn bị bước sang tuổi 49, tôi nghĩ gì?

   THỜI GIAN
Thời gian lọt qua kẽ tay
Những ngón thon mềm khô cứng.
Thời gian chảy qua vầng trán
Vết nhăn hiện rõ mỗi ngày.
Thời gian luồn vào tóc mây
Điểm thêm một vài sợi bạc.
Thời gian lặn vào đôi mắt
Lúng liếng xoe tròn đi qua…

Ai bảo rằng em đã già?
Không đâu! Màu thời gian đấy.
Chỉ có phấn trắng, bảng đen
Nắng mưa thời gian vẫn vậy
Son sắt thuỷ chung như thưở ban đầu!
Bảng không còn, phấn có nghĩa gì đâu
Phấn mất đi, bảng thẫn thờ trống vắng!

Còn em
Nếu một ngày phải rời xa bục giảng
Thì cái già
thực sự đến
Anh ơi!
Ảnh con gái chụp ngày 15/10/2014


Thứ Năm, ngày 02 tháng 10 năm 2014

NGƯỜI MIỀN NÚI 7

Thấm thoắt, tôi đã xong một năm nghĩa vụ vùng cao. Một năm nơi vùng biên, nơi sơn cùng thủy tận với biết bao vui buồn sướng khổ cùng bạn bè đồng nghiệp, cùng bà con dân bản chất phác, hồn nhiên mà tốt bụng vô cùng.
  Dáng giã gạo của tôi giờ cũng đã uyển chuyển, dẻo dai với nhịp chày đôi, chày ba thậm thình mạnh mẽ. Nơi nào có rau dún, nơi nào lắm măng giang, măng nứa tôi đã đọc vanh vách như ghi trong lòng bàn tay.
 Ngày chủ nhật, theo bà con lên rẫy, chân thoăn thoắt trên con đường  ngoằn ngoèo tôi không còn thấy mỏi nữa. Gùi lúa trên đầu tôi đã xấp xỉ 30 kg. Mọi người khen : « Trông thế mà khỏe ra phết ! »
   Tôi đã dự nhiều đám cưới, hiểu thêm phong tục « hăng vắn » (cột chỉ cổ tay), dự những lễ mừng cơm mới cúng ngay ngoài ruộng với cây nêu treo đầy những con thú, con chim thắt từ lạt giang nhuộm màu xanh đỏ. Tôi dự nhiều những lễ «oọc cọ» ( lễ cúng dành cho người phụ nữ ra khỏi bếp sau ba ngày sinh con)
Tôi đã được cầm dùi đánh cúp cụm cùm vào bộ  cồng chiêng  mỗi dịp có lễ hội của bản và cũng nhún nhảy theo từng nhịp đánh. Rồi cũng hét « ki lầu chàm mơi » vang nhà mỗi khi uống rượu cần.
  Tôi cũng mày mò học thêu váy với các em học sinh, tập làm những chiếc đệm bông lau để lót giường nằm. Tôi biết ngồi vào khung cửi, tập lao thoi dệt vải. Tôi tập xe sợi, bật bông, nhuộm chàm...Cái gì cũng biết nhưng không giỏi. Tiếng cười  của tôi đã hòa trong tiếng cười của dân làng, tôi giao tiếp với bà con bằng vốn tiếng Thái tập tọe nhưng bà con quí lắm. « Cô giáo rất tốt, rất tốt ».
  Năm thứ hai, nhà trường cử tôi đi dự thao giảng giáo viên dạy giỏi ở huyện. Tôi hào hứng đi ngay. Tôi nghĩ đến mười ngày được vi vu ngoài huyện mà càng thêm háo hức. Trước khi đi, trường cũng «bồi dưỡng» chuyên môn cho tôi bằng cách cho các giáo viên ngồi làm học trò, tôi soạn bài và dạy.
    Tôi chỉ tay vào hiệu trưởng :
-         Em đứng dậy cho cô biết : Tại sao nói đến cha là  nhớ đến công, nhắc đến mẹ lại nhớ đến nghĩa ?
- Thiếu chi người đó mà gọi tôi ?- Thầy hiệu trưởng sửng cồ.
-         À, cô gọi em trả lời, em vô lễ thế à ? Cô nghĩ em thông minh nhất trong lớp ta thì gọi chứ sao ?
 Thấy thế, mọi người ôm bụng cười. «Cô giáo» cũng cười nghiêng ngả.  Lớp học giải tán.
    Ra đến phòng giáo dục, dự khai mạc xong thì bắt thăm bài dạy. Bắt bài xong được chuẩn bị một tuần. Những đồng nghiệp ở trường ngoài thì về trường soạn bài và dạy thử. Tôi ra bến xe mua vé về nhà. Đơn giản thôi, nếu vào trường, tôi phải cuốc bộ một ngày rưỡi, đi ra mất một ngày rưỡi nữa. Còn về Quỳ Hợp thì chỉ mất vài  tiếng ngồi trên xe. Nhưng một động lực lớn hơn kéo tôi ra bến xe là vì tôi nghĩ ở nhà có người đang đợi tôi. Chàng kĩ sư lâm nghiệp tôi quen dịp về hè luôn là hình ảnh lấp lánh trong trái tim tôi. Anh tán tôi đơn giản bằng cuốn X30 phá lưới  với lời hứa :  Em đọc xong, anh sẽ cho mượn cuốn khác.  Một mùa hè say sưa ngấu nghiến những cuốn sách mà anh luôn sẵn.  Cuộc tranh luận xung quanh nội dung những cuốn truyện làm tôi và anh xích lại gần nhau lúc nào không hay.
 Hết hè, anh gò lưng đạp xe lai tôi cùng với cái túi du lịch to tướng từ nhà đến ngã ba Săng Lẻ  để bắt xe đi Quế Phong. Anh bảo 12 cây số đối với dân lâm nghiệp nhằm nhò gì, anh lai em lên Quế Phong luôn nhé. Tôi cười hạnh phúc trong buổi sáng mùa thu mênh mang.
  Xe chuyển bánh, anh còn đạp theo một quãng, dặn với: « Nếu có điều kiện, anh sẽ lên thăm em.» Tôi vẫy tay, nhìn anh lưu luyến.
 Về nhà đã hai ngày. Thấy tôi mong mong ngóng ngóng, chị gái bảo: « Nó có biết em về mô mà đến!» Ừ nhỉ, anh đâu nghĩ là tôi sẽ về giữa chừng thế này.
  Chiều đó, tôi đang thẫn thờ ngồi nhìn ra đường cái, bỗng giật mình nghe giọng nói ấy. Giọng nói đã khắc ghi trong bộ não của tôi. Tim tôi rộn ràng. .. Cô gái ngồi sau xe anh cười khanh khách và đấm lưng anh thùm thụp. Tôi như ngơ đi một lúc rồi vội chạy ra. Tim lặng đi, chân tự nhiên như muốn khuỵu xuống. Tấm lưng đồ sộ của cô gái che hết dáng thư sinh của anh. Tôi chỉ nhìn thấy đôi chân anh guồng từng guồng nhịp nhàng, chiếc xe xa dần và mất hút.
  Bên tai tôi văng vẳng lời nói của anh cán bộ lương thực dạo nào : « Các em ở vùng sâu, khoan vội yêu ai. Con trai bây giờ sống thực dụng lắm, bọn nó bảo yêu thì chọn giáo viên, còn lấy thì chọn gái ngân hàng, gái thương nghiệp. Dù xấu nhưng có gấu (gạo) nuôi chồng» Tôi cãi : « Không lấy thì yêu làm gì?» «Yêu cô giáo lãng mạn hơn ». Và sau đó như là một minh chứng, đứa bạn tôi chết điếng khi người yêu vừa vào thăm tuần trước thì tuần sau cưới vợ. Một nhân viên ở ngoại thương...
  Tối đó, tôi đang hí húi soạn đồ thì anh đến. « Anh nghe chị  bảo em về, anh mừng quá !» Có một khối gì đó từ dạ dày hay ruột non cứ dâng lên dần, cứ vón cục lại dần rồi chẹn ngang cổ tôi. Hình như mặt tôi tái đi. Anh lo lắng hỏi : «Em làm sao thế?». Tự nhiên, tôi bình thản hơn bao giờ hết :
-         Cô gái lúc chiều là người yêu của anh à ?
Anh ngẩn mặt mất một phút rồi lúng túng :
-         À...cô bạn bán trên cửa hàng ăn, xin đi nhờ xe ấy mà.
« Dân thương nghiệp!» Tôi nghĩ nhanh như thế và bảo :
-         Anh thông cảm, ngày mai em đi rồi, tối nay em muốn nghỉ sớm.
-         Nhưng...
-         Thôi, em xin phép!
 Tôi vào giường nằm trùm chăn. Anh ngồi nói chuyện một lúc với chị gái  rồi chào về. Một đêm nức nở, sáng mai lòng tôi thanh thản lạ. Tôi quyết định đi sớm để nghiên cứu bài vở cho tiết dạy sắp tới. Chị lai tôi đi. 12 cây số thôi sao mà xa, xa thế !



        

Thứ Hai, ngày 22 tháng 9 năm 2014

NHÂN TRUYỆN "GÃ HÀNG XÓM"


   Mấy hôm nay tôi trở nên hiền lành, dịu dàng và ít nói hẳn đi. Không phải tôi…trở chứng gì đâu mà do cổ họng nó đau rát, nói không được. Tôi cũng không háo hức vào blog như mọi hôm vì hai thái dương giật giật như kim đồng hồ chạy pin. Chẳng biết có ai nhắc không mà cái mũi cứ ngứa ngáy rồi hắt hơi liên tục, hắt hơi đến mức thứ nước nhờn nhờn trong mũi chảy ra cả dòng. Khiếp! Giờ thì cổ họng tôi bị tắc hẳn rồi, nhưng viết thì vẫn viết được.
     Thực ra, lâu nay tôi vẫn muốn viết về những người dân lao động tự do ở quanh tôi. Họ, những con người vất vả, cơ cực trong cuộc mưu sinh. Họ, những con người nghèo chữ nghĩa, suy nghĩ có phần nông cạn, cổ hủ, gàn dở nhưng chất phác, thật thà. Họ thật thà đến mức làm người ta khó chịu vì nói ra cả những điều mà người có học nhiều khi nghĩ đến nhưng giấu diếm. Họ, những người dân lao động nhịn ăn, nhịn mặc để dành dụm… tiền. Gạt cái vẻ bề ngoài thô thiển trong cách ăn, cách nói và gạt cái tính toán chắt bóp vì hay lo xa, ta thấy họ cũng thật đáng thương.
   Nuôi ý định vậy thôi, nhưng tôi chưa tìm được tứ cho truyện. Đọc NHÀ KHÔNG CÓ BỐ của lão Tan, tôi chợt hình dung rõ nhân vật của mình. Mất khoảng một tiếng, tôi viết xong bản thảo và đăng ngay lên HƯƠNG NGÀN, chờ ý kiến của mọi người rồi sẽ hoàn thiện sau.
  Hôm nay  thấy anh Hải Thăng có nhận mình là nguyên mẫu trong GÃ HÀNG XÓM. Nguy thật! NT đâu dám viết về anh như vậy?
  Quen anh trên blog, qua các bài viết, tôi biết  anh Hải Thăng trước là lính lái xe trên đường Trường Sơn, sau chuyển ngành làm ở một cơ quan cấp bộ. Đi nhiều, trải nghiệm nhiều, về hưu anh ôm mộng văn chương. Anh vừa cho ra đời tập MEN THƠ, do Nhà xuất bản Hội nhà văn cấp phép, gồm 111 bài. Anh viết đủ thể loại, nhưng tôi vẫn thích những bài lục bát hơn cả.
  Có những bài đọc lên như thấy cả đôi mắt ai lúng liếng làm tác giả chênh chao:
Nghiêng nghiêng nắng, nghiêng nghiêng mưa
Nghiêng nghiêng ánh mắt đong đưa mời chào
Nghiêng nghiêng giữa chốn má đào
Nghiêng nghiêng say tỉnh chìm vào nghiêng nghiêng.
                                        (Nghiêng nghiêng)
 Có những bài như bức tranh thủy mạc đẹp sững sờ:
Đồng Mô trời nước trong xanh
Trăng non in bóng, tròng trành thuyền câu
Mây trời, bóng đảo lồng nhau
Thuyền ai nhẹ lướt vớt câu thơ tình!
                                   (Hồ Đồng Mô)
  Có cảm hứng, ta làm thơ. Và chính việc làm thơ tăng thêm nguồn cảm hứng cho tâm hồn ta bỗng trẻ thêm ra:
Bấy nay tưởng tắt nguồn yêu
Vương vào lục bát lại liêu xiêu tình
Ngắm đời nẩy lộc tươi xanh
Hồn vương vấn gió kết thành câu thơ.
                                         (Thơ với tình)
  Đọc MEN THƠ, ta bắt gặp nhiều bài lục bát xinh xinh như thế. Nhưng có điều, thỉnh thoảng hình như cảm xúc của anh bị chững lại. Nếu nói tâm hồn người làm thơ thường đa tình, thì sự đa tình của anh là đa tình kiểu…con rùa! Con rùa đang chạy thoăn thoắt, cổ ngẩng cao lên hướng về phía trước, bỗng bất ngờ rụt hết cả chân cả cổ lại để nằm im vì …sợ:
  Ai đời đang bềnh bồng trong cảm xúc:
Rượu vào thơ ngẩn ngơ say
Lâng lâng hứng gió, kều mây ngó trời
Em vào thơ, ngẩn ngơ cười
Thôi trăng gió, bỏ đất trời ngắm em.
                                                        (Rượu và em)
  Thế mà anh dội ngay vào xúc cảm đang bừng bừng ấy một gáo nước…đá:
Chán thế sự viết thơ tình
Cưa sừng làm nghé –Vẫn hình bóng trâu
Nghĩ mà đau lại càng đau
Làm thơ tếu táo đùa nhau đỡ buồn.
                               (Chuyển hướng)
  Những bài thơ viết theo thể loại thất ngôn bát cú và thơ tự do cũng có nhiều bài hay về ý tưởng nhưng về luật thơ thất ngôn bát cú có bài chưa chuẩn và sử dụng phép tu từ trong thơ tự do của anh thì chưa đạt đến độ hay. Tôi nghĩ, nếu anh  có cuốn VẦN VÀ TỨ TRONG THƠ của anh Đỗ Đình Tuân thì hay biết mấy! Hai người cùng quê Hải Dương, một ở Chí Linh, một ở Gia Lộc. Hai người đều đã làm được công việc rất đáng trân trọng: đem cảm hứng văn chương đến với những người cao tuổi để họ thực sự được sống khỏe, sống vui, sống có ích. Anh Hải Thăng thành lập tổ thơ cụm 9, anh Đỗ Đình Tuân tham gia  thành lập Xóm tri ân.
  Lại nói đến VẦN VÀ TỨ TRONG THƠ của anh Đỗ Đình Tuân, dù tác giả khiêm tốn tự nhận: “Những bài viết trong cuốn sách này chắc cũng chỉ là sự “bơi lóp ngóp” của riêng tôi trong cái “rừng nho biển thánh” mênh mông ấy. Có thể chỉ là những “cũ mèm”, chưa có gì là tân tiến hiện đại cả. Dù sao cũng là một cách hiểu, một lối tiếp cận của một người yêu thơ muốn chia sẻ cùng bầu bạn. Vì thế vẫn là một tham khảo có ích cho những ai muốn hiểu thơ để bình thơ và làm thơ tốt hơn.” nhưng quả thật, đọc VẦN VÀ TỨ TRONG THƠ  của anh thật thú vị. Anh chuyển tải những kiến thức mang tính bác học, hàn lâm, những khái niệm, những thuật ngữ “khó nhai, khó nuốt, khó tiêu” thật dễ hiểu bằng lối viết dí dỏm, nhẹ nhàng. Anh tối giản những khái niệm trừu tượng bằng cách nói giàu hình ảnh. Anh diễn đạt những vấn đề lí luận văn học khô khan bằng những ngôn từ giản dị nhất có thể. Đọc VẦN VÀ TỨ TRONG THƠ, tôi hình dung một Đỗ Đình Tuân với vốn văn chương rất sâu, rất rộng đang đứng trước bạn bè thân hữu nói chuyện làm thơ bằng vẻ mặt cười cười, mắt nheo lại như vừa trêu bạn vừa nói, thế mà mọi người nghe thật chăm chú, vừa nghe vừa gật gật: Hiểu rồi, hiểu rồi!
   Nghe anh Hải Thăng bảo hiện đang tiếp tục viết để cho ra đời tập truyện ngắn đầu tay. Trong phần nhận xét truyện GÃ HÀNG XÓM, anh bảo: “Tôi đã có ý tưởng viết truyện ngắn lâu rồi, nhưng lực bất tòng tâm. Nay gặp được NT học tập được đôi điều nên hâm lại quyết tâm xưa. Được cô giáo NT truyền thụ theo lối cầm tay chỉ việc nên cũng dễ tiếp thu” Chao ôi, đọc những dòng này mà sướng…đê mê! Nhưng là tự sướng thế thôi, NT viết còn chưa ra hồn, nói gì đến cầm tay chỉ việc cho ai. Mách anh Hải Thăng nhé:
  Người trên blog này mà em luôn coi là sư phụ chính là lão Tan 262 ấy. Em chưa có may mắn được đọc truyện của lão ( lão giấu kĩ rứa), nhưng lão có trình độ lí luận sắc lắm. Lão dùng lí luận ấy  soi vào tác phẩm văn chương tinh như …mắt cú mèo nhìn vào bóng đêm! Những nhận xét của lão thường mang tính định hướng, vừa đủ để người viết không nguội cảm hứng sáng tạo vì chán nản, vừa chỉ ra được cái hạn chế, cái cần khắc phục. Dí dỏm, hài hước bông đùa mà tỉ mỉ, cẩn thận, chân tình. Ừ, nếu lão ở gần, em sẽ xin lão ngồi im cho em…hôn lão một cái! He he…
  Hôm trước tôi có chia sẻ bên blog Lão là có thể thời gian tới, có chuyện ngoài ý muốn đến với em, em sẽ ngừng viết blog.
 Hôm nay tôi viết vội bài này, xin tạm biệt tất cả những người hàng xóm thân yêu  của tôi một thời gian nhé.
                                  Đêm 22/9/2014
                  


  

Thứ Tư, ngày 17 tháng 9 năm 2014

GÃ HÀNG XÓM


  Đã mười hai giờ trưa. Mưa vẫn tầm tã. Thỉnh thoảng một cơn gió ào qua, cây cối bị xô dạt, rạp mình chịu tiếp những đợt xối xả từ trên vòm trời bàng bạc trút xuống.
  Nàng hết nhìn trời lại nhìn gã. Bực mình lắm mà chẳng dám nói gì. Gã lại vớ lấy chai rượu đã lưng quá nửa, rót đầy chén. Đôi mắt đỏ quạch nhìn nàng, giọng gã khê nồng, nghe rè rè như đài sắp hết pin:
 - Cô giáo có thấy đời tôi khốn nạn không? Hừ, nhưng ai khinh thì khinh, ai chửi thì chửi, tôi đếch quan tâm, miễn cô giáo hiểu cho lòng tôi là được.
   Lúc đầu, nàng còn hào hứng tiếp thức ăn cho gã, khi gã tợp một cái hết nhẵn chén rượu, nàng cầm chai rót tiếp rồi gắp  miếng thịt gà:
-         Anh ăn đi, vừa ăn vừa uống kẻo say mà mệt đấy.
Gã nhìn nàng, cái nhìn mơn trớn đến ớn lạnh:
  - Sống bằng này tuổi đầu, giờ tôi mới cảm thấy mình hạnh phúc được bàn tay mềm mại của phụ nữ chăm chút trong bữa ăn. Rượu cô giáo rót tôi uống vào thấy không cay mà ngọt, miếng thịt gà cô giáo gắp mềm và thơm lắm, cô giáo biết không?
Nàng cười, một nụ cười không cảm xúc.
Gã lại tợp một phát, nuốt ực, rồi khà một tiếng. Tay cầm chiếc đùi gà, há miệng cạp mạnh một miếng và nhai nhồm nhoàm, mỡ quết vàng cả đám râu ria  lởm chởm sợi đen sợi bạc. Nàng đưa cho gã tờ giấy lau, gã xua tay:
  - Khỏi cần! Cô giáo cứ để đó. Ăn xong lau một thể. Hừ, mấy kẻ rỗi hơi cứ bảo tôi là thằng keo kiệt, thằng ki bo. Con mẹ Lan còn chửi vào mặt  tôi: “ Bố mẹ anh đẻ ra anh đặt tên là Kỉ thật không sai, đồ Kỉ xẹt!”. Cô giáo biết kỉ xẹt là gì không? Là kẹt xỉ đó. Ôi trời, “giàu không hà tiện khó liền tay, khó không hà tiện đi ăn mày” dân lao động chúng tôi không kẹt xỉ để mà đi ăn mày à? Cái gì cũng đổ mồ hôi, sôi nước mắt mới có, phải nhàn nhã như bọn công chức nhà nước đâu, xênh xang mũ áo, đến tháng nhận mấy triệu bạc ngon ơ.
-         Công chức nhà nước cũng phải làm việc chứ anh. Bọn em cũng nhiều áp lực lắm.
-         Áp lực ư? Dạy học như cô giáo mưa không đến mặt, nắng chẳng đến đầu. Mất mùa hay được mùa, bão to hay động đất thì vẫn chẳng ảnh hưởng quái gì đến nồi cơm.
-         Thế sao con gái anh thi đậu đại học sư phạm anh lại không cho học, bắt ở nhà lấy chồng?
Gã ực tiếp một chén nữa,  lại nhai. Trợn mắt nuốt miếng thịt xong, gã nhìn nàng trừng trừng:
-          Đại học đại hiếc làm gì? Bốn năm, bỏ ra một đống tiền, rồi xin việc, rồi mua xe…cuối cùng lấy chồng, thế là hết. Bao nhiêu vốn liếng của mình bỏ ra cho thằng khác hưởng à?
-         Sao lại thằng khác?
-         Chứ lại không? Nhà chồng nó hưởng, chồng nó hưởng, tôi được cái đếch gì? May lắm thỉnh thoảng nó mua cho chai rượu nhạt. Xì, con gái là con người ta…
Nàng lắc đầu, không muốn tranh cãi thêm với gã:
-         Thôi, anh ăn đi rồi tranh thủ tạnh mưa về nghỉ một lát.
-         Cô giáo đuổi khéo tôi đấy à? Mưa gió thế này, tôi cũng cần người nói chuyện, cô cũng cần người nói chuyện, cho nó đỡ buồn, đúng không?
  Nàng lại nhìn ra ngoài trời, thở dài. Nước tràn lênh láng cả con đường đổ bê tông. Dòng nước đỏ quạch cuốn theo những rác rưởi, lá cây, túi ni lông…rồi đổ ồ ồ xuống chiếc cống. Nàng lại nhìn vào mâm, đĩa thịt gà đã vơi quá nửa, xương lổn nhổn vung vãi ra chiếu. Lạy trời, mong gã ăn nhanh để nàng dọn dẹp và nghỉ trưa một lát. Đã gần một giờ chiều.
Gã lại quơ tay, túm cổ chai rót nửa ra ngoài, nửa vào chén:
-         Đấy, con Hoa lấy chồng ba năm rồi, cấm có mua cho bố  cái quần đùi gọi là, lúc nào cũng ỉ ôi, buôn bán dạo này khó quá, ế ẩm quá. Mẹ nó chứ, tôi cần đếch gì nó nuôi.
Gã ngửa cổ, nghiêng chén rót vào miệng, rượu chảy cả ra mép. Lấy ống tay áo quẹt ngang, gã lại rè rè:
-         May còn có con Hồng đi giày da trong Nam, mỗi tháng bốn triệu rưỡi, tôi bắt gửi về hai triệu. Góp đó sau về mà cưới chồng chứ. Hừ, chẳng lẽ đổ lên đầu bố?
Nàng vẫn ngồi im. Gã gắp một đũa rau sống lẫn giá, bỏ vào mồm nhai nhồm nhoàm rồi tiếp:
-         Hồi mẹ nó ốm, bao nhiêu tiền thuốc men chạy chữa, ngốn của tôi cả năm trời đi phụ hồ chứ ít à. Thế mà lúc khỏe cứ hạnh họe: “Ông đi làm mà cả năm không đưa đồng nào cho tôi nuôi con.” Người ta làm khi lành để dành khi ốm chứ, bà ấy ốm năm tháng trời, chẳng làm được gì, không có tiền tôi thì lấy đâu?
   Nàng ngồi bó gối, nhìn gã như nhìn một sinh vật lạ. Vợ gã bệnh tim, ngất lên ngất xuống bao nhiêu lần, nhưng vẫn cố nuôi lợn nuôi gà, rồi đi thu gom phế liệu. Người cứ tong teo dần, quầng đen quanh mắt ngày một đậm, nhìn xa như đeo kính. Chị tằn tiện trong số tiền ít ỏi nuôi cả nhà, còn tiền gã làm phụ hồ, nghe đâu tháng năm triệu, gã cất kĩ. Thỉnh thoảng vợ nhắc thì gã trợn mắt: “ Đừng tò mò tọc mạch!” Vợ gã sợ gã một phép. Gã to lớn, vâm vấp như con trâu mộng, vợ gã mảnh mai như gié lúa. Không ít lần cánh tay hộ pháp của gã làm gié lúa kia bầm dập tơi tả vì những chuyện không đâu.
 Rồi gié lúa cứ lả dần cho đến khi không gượng dậy được nữa. Gã điên đầu. Gã hậm hực. Vợ người ta vừa làm ra tiền, vừa khỏe mạnh, vợ mình vừa kém cỏi lại yếu như sên! Đồ ăn hại! Gã lầm bầm suốt ngày. Tổ thợ xây bảo gã nghỉ làm mà chăm vợ, gã chửi:
-         Đứa nào cho tao tiền mà bảo tao nghỉ làm? Đứa ốm không làm được, đứa khỏe nghỉ nốt thì lấy c…mà ăn à?
Hai đứa con chăm mẹ. Thậm thà thậm thụt mua cho mẹ khi quả trứng, khi bát phở. Đợi bố đi làm rồi mới dám mua, nếu không muốn nghe bố chửi là đồ phá gia chi tử.
Làm lễ trăm ngày cho vợ xong, gã nhẩm tính: “Trừ tiền làm mâm cỗ và các thứ, số tiền phúng viếng vẫn lời năm triệu!” Tổ thợ xây cạch mặt gã. Thế là giờ gã thành thợ tiện, những công việc cần cơ bắp, ai gọi làm gì dù chỉ dăm ba chục bạc là gã đi ngay.


Gã cầm cả chai rượu tu ừng ực. Một trận mưa nữa lại xối xả trút xuống. Đã hai giờ kém mười lăm, con nàng xách cặp, mặc áo mưa đi học buổi chiều.
-         Này, cô giáo… đừng nhìn tôi… đắm…đắm đuối thế mà tôi…ngượng.
Gã khuơ khuơ tay, mắt lờ đờ, nghiêng người sắp ngã xuống chiếu.
-         Cô …cô giáo…còn …còn rượu không?
-         Thôi, anh say rồi, đừng uống nữa. Để em thanh toán tiền công rồi về nhé?
-         Tiền…tiền…tôi thiếu đếch gì! Tôi…tôi…có hai…hai trăm triệu…gửi ngân hàng đầu tư đó. Cô…cô giáo có muốn…muốn…làm chủ số…số tiền…đó không?
Mắt gã vằn đỏ, ánh lên những tia đáng sợ. Nàng hốt hoảng:
-         Thôi, anh về đi, mai em trả tiền cho.
-         Đã…bảo…không…không cần tiền!
Gã lồm cồm bò sang phía nàng ngồi. Nàng vừa đứng dậy thì gã đã nhanh tay chộp lấy bàn chân nàng:
-         Đừng…đừng đi…anh…anh cô…cô đơn lắm!
Nàng hét lên, hất mạnh chân. Gã gục xuống chiếu, nôn thốc nôn tháo.  Mưa rào rào ngoài kia cũng không át được tiếng ọ ghê rợn của gã.
   Nàng dẫm chân dẫm cẳng. Trời ơi là trời! Giá đừng nghe lão Tan 262 xui dại, bảo: cần gì thì “vẫy tay thằng cha hàng xóm”, có phải giờ này nàng vẫn yên ổn mà ngắm mưa rơi?



  




   

Thứ Năm, ngày 11 tháng 9 năm 2014

NGƯỜI MIỀN NÚI 6

Trưởng bản Cà Na chạy lên trường chính, quần xắn cao, bao dao đeo bên hông như người đi rừng:
-         Thầy hiệu trưởng ơi,cô giáo bản ta bị cái sốt rét hắn không cho đứng vững được nữa rồi, mau cho người xuống dạy thay với!
Hóa ra cô Nga sốt mấy ngày, vẫn cố gắng dạy, chóng mặt ngã lăn quay trên bục giảng. Hai cô dạy 4 lớp, cứ ghép 2 lớp lại ngồi chung một phòng (lớp 1 ghép với lớp 2, lớp 3 ghép với lớp 4). Giờ một cô ốm, học sinh phải nghỉ học mất mấy ngày.
 Hôm đó là thứ 5, chị Lan được phân công xuống dạy thay. Thứ 6 tôi nghỉ chuyên môn, chị bảo: “Có đi cho biết Cà Na thì dạy xong rồi gần trưa đi, chiều mai về.” Tôi nghe bảo Cà Na cách trường chính 7 cây, cũng hơi ngán. Nhưng tôi tò mò muốn biết cảm giác đứng trên bè chèo qua sông Chu như thế nào nên háo hức cùng đi với chị.
  Trời âm âm u u nên trưa rồi mà đường trong rừng vẫn tối. Cứ men theo đường mòn ngoằn ngoèo, hai chị em vừa đi vừa trò chuyện. Thỉnh thoảng tôi lại dừng để gỡ con vắt vừa bật lên bắp chân. Đi càng vào sâu trong rừng, vắt càng nhiều. Trên  đám lá khô ẩm ướt, vắt từng đàn ngo ngoe giơ cái vòi lên như trêu ngươi. Ngửi thấy hơi người, chúng càng háo hức tợn. Thấy tôi bận rộn với việc gỡ vắt, chị Lan bảo: “Xắn quần cao lên, khi nào chúng bám nhiều thì thấp nước miếng mà xoa một lượt, cứ gỡ như thế thì đi lúc nào cho tới?”. Hì....mặc quần lụa ống rộng, xắn lên tận chỗ cao nhất của chân, thoáng chốc lũ vắt đã tập hợp từ gót lên gần bẹn. Có những con xoa mãi không ra, phải dứt mạnh, máu chảy dòng dòng xuống gót chân gọi lũ vắt khác phóng tới.
   Đi khoảng một tiếng thì đến bờ sông Chu. Sông rộng mênh mông nhưng nước không xiết lắm. Bên bờ sông đã có sẵn những bè nứa,có bè to kết vài chục cây nứa, bè nhỏ khoảng dăm sáu cây. Chị Lan mở dây, kéo ra và dùng sào chống khỏi bờ. Tôi cũng cầm một cây sào, nhọn đít  chống, bè xoay vòng, sắp lật. Hoảng quá định nhảy xuống thì chị Lan bảo: “Đứng im, để tau chèo cho, chưa quen lật bè như chơi đó.” Ngồi trên bè đi trên dòng sông cảm giác thư thới vô cùng. Rừng bạt ngàn xanh, bờ sông bạt ngàn xanh. Trời bàng bạc và nước cũng bàng bạc. Gió hiu hiu lành lạnh,  Tôi thấy thật thú vị, chợt nhớ bài thơ “Đi thuyền trên sông Đáy” của Hồ Chí Minh. Chà, giá được nằm ngửa trên bè, theo dòng nước mà ngắm trời mây non nước, cứ thế bồng bềnh trôi sang Thanh Hóa nhỉ? Tôi nói suy nghĩ đó với chị Lan, chị gắt: “Mơ mộng vừa thôi, nhìn đằng kia kìa, chèo không khéo là trôi vào đó chết queo đấy!” Phía dưới, người dân đóng cọc, dùng lá rừng đắp thành cái bai lớn chắn ngang dòng sông, trừ ra một khoảng nhỏ rồi đặt một cái đó khổng lồ, nước chảy xối xả, cá bị cuốn theo, lọt vào trong đó không thể bơi ngược ra được. Cách bắt cá này khá phổ biến ở đây. Nghe bảo có lần một cô giáo đã sắp trở thành chú cá trong đó do luống cuống trong khi chèo bè, cũng may bè quay ngang, cô giáo bám trụ được mấy phút thì có người đến cứu.
  Đến trường lẻ Cà Na khi đã gần hai giờ chiều. Một căn lều nứa lợp lá cọ là kí túc của 2 cô. Buồn hoang vắng. Nga trùm kín chăn, rên khe khẽ. Hỏi Xuân đi đâu mà nằm một mình? Nó đi vào bản xin gạo tẻ về nấu cháo. Trán nóng hầm hập, tóc tai dính bết vì mồ hôi. Hỏi sao nóng mà đắp chăn? Rét lắm! Rét rung cả ruột! Thế mới hiểu hai câu thơ của Chính Hữu:
Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh
Sốt run người vầng trán ướt mồ hôi!
   Chưa bị sốt rét, tôi chưa nếm trải cái cảm giác “ngoài nóng trong rét” như thế này. Sau này chăm chị Lan nhiều lần, tôi mới thấy những cơn sốt rét nó kinh khủng như thế nào. Đắp mấy cái chăn bông, nằm đè cả lên người mà vẫn run bần bật. Mỗi lần dứt cơn, da tái đi, môi nhợt nhạt, mắt như lồi to thêm.
  Xuân về. Một ít gạo gói trong mo cau, một nắm rau xanh, một vắt xôi đang nóng.” Ngồi chờ họ hông xôi xong xin một vắt về ăn khỏi nấu. Hai chị em xuống lâu chưa?” “Cũng vừa đến xong. Cho nó uống kí ninh chưa?” “Tí nữa ăn cháo xong đã. Bảo khỏi hẳn hãy dạy, không nghe, lo học sinh nghỉ lâu quá tội nghiệp, ốm lại nặng hơn ốm đi mà.” Xuân lúi húi nhóm lửa đun cháo rồi bảo: “Hay là ba chị em vào bản ăn cơm thăm?” Tôi không muốn đi. Cuối cùng vắt xôi là phần tôi, còn Xuân và chị Lan vào bản, ăn rồi còn tranh thủ tin cho học sinh đến học.
 Vào bản, khách đến dù là ai thì đồng bào cũng mời ở lại “ki khầu giám” (ăn cơm thăm). Mời thực lòng, ăn thực lòng, không khách sáo. Bữa cơm dù chỉ có ép xôi chấm muối ớt nhưng họ luôn miệng giục: “Ki tẻ nơ, khàu nhăng ề đé” (Ăn thật đi nha, cơm đang nhiều).
  Còn một tục lệ nữa là “non giám” (ngủ thăm). Khi có “xáo lạ” ( gái lạ) nơi khác đến, trai bản tập trung chật nhà, nói chuyện râm ran rồi ngủ lại.“Xáo lạ” nằm giữa, trai bản nằm vây quanh, chuyện trò rồi cười khúc khích cả đêm. Tôi tò mò: “Ngủ vậy họ có mần chi không?” “ Xáo lạ cho mần thì mần, không cho thì thôi, không ép.” Người miền núi chẳng quan trọng gì chuyện đó. Một phụ nữ có chồng con rồi, không may chồng chết (họ ít bỏ nhau) thì trai tân vẫn lấy đàng hoàng, vẫn dẫn trâu, bạc nén đến cưới, hơn chục tuổi cũng mặc. Đàn ông người Kinh vào bản buôn bán, làm trầm, nếu trọ lại trong nhà dân, thích thì con gái cho “non giám”, miễn phí hoàn toàn. Bây giờ cũng vậy, con gái mười sáu mười bảy ở vùng sâu đi kiếm tiền ở những điểm du lịch, bãi tắm mấy năm rồi về lấy chồng, chẳng sao cả.
Người miền núi sống thoáng hơn người miền xuôi là thế.
  Chiều thứ sáu tôi trở lại trường chính, nhờ một em học sinh đi cùng để chèo bè cho cô. Mệt và mỏi, nhưng được thấy, được nghe để hiểu thêm về đồng bào ở vùng đất biên cương này nên tôi vẫn khoái được chu du thêm nhiều điểm trường lẻ nữa.
  Về phòng, đập ngay vào mắt tôi là một bộ đồ lót đàn ông, một cái quần đùi và một chiếc áo ba lỗ. Hóa ra khi hai chị em đi vắng, kí túc có khách, một cán bộ lương thực. Và thế là phòng tôi có người “non giám”.
-         Anh ấy nhờ cất hộ bộ đồ vì lúc sáng chưa khô – một chị phòng bên nói vọng sang.
 Tối thứ bảy, chú đến. Hỏi chị Lan đi đâu mà chỉ có một mình? Đi dạy thay ở Cà Na ít ngày. Đi bao giờ? Hôm qua. Chợt nhìn thấy bộ đồ lót gấp gọn đầu giường. Đồ ai thế? Tôi cười, chẳng nói gì. Chị phòng bên  vọng sang léo nhéo: “ Chàng về gửi đồ lót lại đây/ Để đêm thiếp đắp, để ngày xông hương. Chắc giờ trở đi ngủ ngon rồi NT nhỉ?” “ Gối đầu thôi, không đắp đâu.” Tôi trả lời.
  Chú không nói gì. Tôi hỏi:
-         Hôm nay hiền thế? Chưa nghĩ ra chuyện để cãi nhau à?
-         Hừ…người ta nói đo được lòng sông lòng biển, ai đo được lòng người.
-         Lòng sông lòng biển có chỗ sâu chỗ cạn, có lúc đầy lúc vơi. Còn ruột người hình như các nhà khoa học đo được hơn ba mét thì phải – Tôi bắt đầu lí sự.
-         Đừng lợt chợt! Hôm nay không có tâm trạng đùa.
-         Ơ, đó là vấn đề hoàn toàn nghiêm túc, dựa trên cơ sở khoa học đấy.
 Im lặng. Thở dài…
  Ngồi một lúc,chú lại bàn, mân mê mấy cuốn vở soạn bài rồi lấy bút viết. Xong chào ra về.
 Vẫn là nét chữ nghiêng ngiêng đẹp mê hồn:
“ Tưởng nước giếng sâu anh nối sợi gàu dài
Ai ngờ giếng cạn, anh tiếc hoài sợi dây!”
 Tôi mỉm cười, tắt đèn đi ngủ.
 Thế mà thứ bảy tuần sau vẫn đến. Bước vào phòng đã cười tươi như hoa:
-         Tay cán bộ lương thực lấy đồ rồi à?
 Mặt tôi lạnh tanh, lại bàn lục tờ giấy tuần trước, nghĩ một lát, chép tiếp hai câu:
“ Giếng có sâu đâu mà anh nối sợi gàu
 Thu dây về kẻo chạm đáy, nước sẽ đục ngầu người ơi!”
Trả lại tờ giấy cho chú, để chú ngồi với chị Lan, tôi sang phòng khác.




Thứ Hai, ngày 08 tháng 9 năm 2014

CON ĐÃ LỚN?

   Hồi hai con bé tí xíu, mẹ nằm giữa, hai chị em hai bên, thích thú gối đầu lên tay mẹ để nghe kể chuyện. Câu chuyện hai chị em thích nhất là HAI CHÚ GẤU THAM ĂN, cứ đến chi tiết “Hai chú gấu con thèm nhỏ dãi vẫn hếch mõm lên xem phần nào to hơn, phần nào nhỏ hơn” là hai chị em lại cười rinh rích. Mẹ bảo: “ Đấy, chị em trong nhà không tin nhau, giành giật miếng ăn với nhau thì tất kẻ ngoài sẽ lợi dụng.” Đứa nào cũng bảo: “Con biết rồi!”
Con biết rồi, vậy mà mỗi khi có cái bánh hay một thứ hoa quả gì cần chia là y như sẽ xẩy ra “nội chiến”. Hai chị em săm soi từng li, từng tí xem của mình có ít hơn không. Mẹ bảo, hay mẹ mua cái cân tiểu li về mà cân?
 Năm nào trung thu mẹ cũng mua bánh ga-tô cho hai chị em. Không chỉ vì đó là thứ bánh hai con thích ăn mà còn là thứ bánh lấy ngay tại cơ sở sản xuất đáng tin cậy. Mẹ không cần phải băn khoăn như khi mua một chiếc bánh trung thu. Có thể nhân nó bị mốc? Có thể  thứ mỡ beo béo ấy làm từ những thùng mỡ động vật thối người ta nói trên ti vi?
  Và năm nào cũng vậy, hai chị em lại bò ra mà đo, mà xịch qua xịch lại lưỡi dao trước khi cắt vì sợ…không bằng nhau. Mặc dù sau đó ăn không hết! Chẳng biết đến bao giờ  hai con mới thành người lớn!
   Năm nay mẹ tuyên bố: “ Chị lên cấp ba rồi, vậy là chỉ còn em được ăn trung thu thôi.” Chị lẳng lặng lau chùi hai cái đèn lồng, lắp pin vào cái của em, còn của mình thì cất vào hộp đồ chơi như cất vào một góc kỉ niệm tuổi thơ.
  Nhưng chị mới “người lớn” có một nửa thôi, nửa còn lại vẫn …thèm ăn bánh ga tô! Chiếc bánh được đặt ngay ngắn, mẹ thấy chị cắt một phần to, một phần nhỏ. “Năm nay cho chị ăn ké của em với nhé?” Chị xoay phần to sang cho em. “ Chị ăn phần này đi, em đang còn được ăn năm năm nữa mà!” Em lại xoay phần to về bên chị. Nhìn cảnh ấy, mẹ vui lắm, nhưng vẻ  mặt mẹ thật nghiêm: “ Thế là hai con đã thành người lớn thật rồi. Năm sau mẹ không mua quà trung thu nữa!” Con trai ngước nhìn mẹ, nũng nịu: “Không, con chưa lớn đâu.” “Thế bao giờ con trai mẹ lớn nhỉ?”
  Khi mẹ trầy trật đóng chiếc đinh lên tường, chiếc đinh văng đâu mất, chỉ có búa đóng vào tay thâm tím, mẹ ước: “Giá như con trai mẹ đã lớn!”
 Khi mẹ loay hoay vặn con ốc rỉ sét, ốc không xoay, chỉ người mẹ xoay bốn phía, mẹ thở dài: “Giá như con trai mẹ đã lớn!”
 Khi dây phơi quần áo bị đứt, mẹ kéo toát mồ hôi mà sợi dây vẫn chùng, mẹ  thầm mong: “Giá như con trai mẹ đã lớn!”
  Khi cần củi đun nồi thuốc, mẹ gồng mình giơ chiếc búa  nặng chình chịch, phang xuống. Búa cắm phập vào đất, khúc củi vẫn  nằm tênh hênh, mẹ chép miệng: “Giá như con trai mẹ đã lớn!”
   Khi đường điện bỗng dưng bị chập, lửa bốc cháy rừng rực, mẹ hốt hoảng chẳng biết làm gì, nước mắt lưng tròng: “Giá như con trai mẹ đã lớn!”
   Trung thu, mẹ không chúc gì hai con cả, mẹ làm mấy câu thơ tự nói với mình:
        Mẹ  -  đất nâu suốt một đời lấm láp
        Con -  cây xanh trong nắng ấm bật mầm.
        Cây nhờ đất mỗi ngày thêm tươi tốt
         Đất lặng thầm chờ đợi một bóng râm!






                                       
                
    


Thứ Hai, ngày 01 tháng 9 năm 2014

NGƯỜI MIỀN NÚI 5

Một ngày của tháng mười một âm, làng bản, núi rừng vẫn chìm trong sương mãi đến tám giờ sáng, nhưng trời không mưa. Ánh nắng đủ sưởi ấm những luống thuốc phiện trồng quanh nhà dân để  không bị cháy quắt vì sương muối. Thế nhưng học sinh mãi vẫn chưa thấy em nào đến trường. Chị Lan bảo, trong bản có đám cưới, chúng ở nhà ăn cưới cả, không đến trường đâu. Ra thế. Cứ có đám ma, đám cưới là cả bản già trẻ lớn bé đều tập trung đến ăn. Có khi kéo đến hai ba ngày, nhất là đám ma. Tí nữa đi cho biết đám cưới ở đây, chị Lan lại rủ rỉ. Tôi hỏi, nhưng họ có mời không? Cần gì mời, đến rồi người ta mời vào thôi. Đúng là đông như nhà có đám. Đàn ông tất bật với việc nấu nướng: hông xôi, luộc thịt, cắt thịt, bày mâm. Đàn bà chỉ đi vác nước rồi làm những việc vặt, còn nữa ngồi nhai trầu. Những người khác nữa không làm gì thì uống rượu cần, hô hét inh ỏi. Bọn trẻ con chạy nhảy, reo hò.
   Thấy thầy cô đến, họ kéo vào uống rượu cần. Xong hiệp rượu thì ngồi mâm. Mỗi mâm 5 người. Thức ăn bày trên lá chuối, chỉ có món thịt luộc, rồi có 5 bát con cháo lòng, một ép xôi ( ép là đồ dùng đựng xôi, đan bằng mây, rất đẹp. Người miền núi hông xôi xong, quạt cho nguội rồi bỏ vào ép, đậy lại thật chặt. Xôi để cả ngày vẫn dẻo). Ngồi vào mâm, tôi bưng bát cháo húp, rất ngọt. Mọi người cười, húp hết cháo lấy gì mà chấm? Hóa ra cháo để chấm thịt, chấm xôi. Thấy thế, một thanh niên bưng tiếp cho tôi một tô nữa, bảo cô giáo thích thì ăn đi, còn nhiều trong nồi ấy.
  Đi ăn cưới về thấy một người đàn ông lạ đang đứng ở sân. Hỏi anh có việc gì mà vào trường? Mình vào thay thầy Mạnh. Hóa ra thay hiệu trưởng à?
  Thầy Mạnh nguyên là giáo viên dạy Vật Lí ở trường nội trú, đang yên đang lành bỗng tham gia vào vụ trộm trâu của dân. Họp lên họp xuống, kỉ luật đuổi khỏi ngành thì nặng quá nên cuối cùng đẩy vào đây làm hiệu trưởng. Hôm tôi mới vào trường, thấy hiệu trưởng trong bộ dạng khô quắt, mặc chiếc áo sọc đen đỏ cũ sờn và chiếc quần nâu vải pha ni lông nhăn như lò xo, tôi cười: “ Anh nên đeo một tấm biển “Đây là hiệu trưởng” trước ngực ấy.” Giọng Quỳnh Lưu: “Mình có ham chi cái chức hiệu trưởng mô.” “ Không phải, nhưng treo thế để người ta khỏi lầm tưởng là thằng cha chăn bò.” Anh ta cười đau khổ: “ Vào đến đây rồi, hiệu trưởng hay chăn bò thì khác chi nhau?” Làm hiệu trưởng nhưng suốt ngày chỉ biết vào bản kiếm rượu uống, say ngất ngư thì loạng choạng về kí túc ngủ. Không ngủ thì biết làm gì? Giáo viên đi dạy, hiệu trưởng không dạy thì ngủ. Nghe bảo có phương án thay hiệu trưởng từ đầu năm học nhưng mãi gần hết học kì 1 mới tìm ra người.
  Thầy Nhân mới vào thay là một hiệu trưởng có kinh nghiệm, đã làm nhiều năm ở trường ngoài. Thầy bảo phải ổn định lại mọi thứ, nhất là phần chuyên môn. Ở đâu cũng phải dạy cho ra dạy, học cho ra học. Ở vùng biên càng phải chăm chút con em hơn vì liên quan đến cả an ninh, chính trị… Giáo viên lục tủ lấy giấy đóng vở soạn bài, hiệu phó lo làm thời khóa biểu…
  Thầy đi từng phòng, tìm hiểu, hỏi han tình hình. Dừng lại ở phòng chị em tôi khá lâu, tôi bảo: Lớp 9 có 7 em toàn là nam nhưng không bao giờ đi đủ. vì mỗi tháng chúng phải nghỉ ít nhất là 3 ngày để đi làm rể. Đứa nào cũng có vợ cả rồi. Hỏi sao có vợ còn đi học, chúng bảo: “Học để làm cái cán bộ, lấy vợ cho hắn làm việc nhà để ta còn học chứ.” Việc đào tạo cán bộ địa phương phải như thế. Các em nữ chủ yếu chỉ học xong cấp 1 là nghỉ để lấy chồng. Còn số giáo viên địa phương, trình độ chuyên môn 7+ hè (học xong lớp 7 ngày xưa rồi học thêm 3 tháng hè kĩ năng sư phạm về dạy cấp 2)  hoặc 4+1 (học lớp 4 rồi thêm 1 năm sư phạm về dạy cấp 1), gọi là đào tạo cấp tốc, năng lực yếu, thầy nên cho giáo viên miền xuôi kèm cặp cho họ.
   Tổ chức dự giờ để khảo sát chất lượng giáo viên. Việc chưa có xưa nay.
 Giờ Học vần của thầy Hình, học bài “Nh” “Th”. Trong sách giáo khoa vẽ 2 bức tranh, bức bên trái là cái nhà, dưới ghi chữ “Nhà” có in màu chữ “nh”, bức bên phải vẽ con thỏ, dưới viết chữ”Thỏ” in màu chữ “th”. Đáng ra thầy cho học sinh quan sát tranh rồi hỏi tên sự vật, học sinh gọi đúng tên “nhà” “thỏ” thì thầy giới thiệu chữ, và từ đó nhận mặt phụ âm nh, th. Nhưng thầy giơ sách lên:
-         Đây là “nhà”, đây là “thỏ”, ghép lại ta có từ “nhà thỏ”. Nhà thỏ hay còn gọi là chuồng con thỏ. Ở miền núi thì chuồng thỏ làm bằng gỗ, nhỏ thôi, nhưng có lẽ đây là chuồng thỏ ở thành phố nên xây bằng xi măng, to lớn như nhà con người…
Rồi thầy kể về các loại thỏ, nuôi nó ăn như thế nào, thịt ra sao…Những người dự cười khúc khích, hiệu trưởng đứng dậy: “Thôi, cả lớp nghỉ, thầy giáo vào phòng họp”
Họp rút kinh nghiệm. Giáo viên phải lấy cuốn “ Sách giáo viên” có hướng dẫn cách triển khai bài dạy mà làm theo, đừng dạy “bo” như thế.
Ngày hôm sau, thầy Páo dạy toán, bài: Số 10. Hỏi đã đọc hướng dẫn dạy chưa? Đọc kĩ rồi, thuộc rồi.
 Thầy vẽ 10 vòng tròn nhỏ trên bảng rồi tô phấn vào, hỏi: “ Trên bảng có bao nhiêu chấm đen?” Học trò ngơ ngác. “Đếm đi!”, thầy giục. Học trò vẫn nhìn lên bảng nhưng không em nào giơ tay. Thầy chỉ định một em. Nó rụt rè: “Thưa thày, không có cái chấm đen nào.” Thầy khùng lên: “ Không có, không có thì cái cục c…đây à? Dốt vừa thôi chứ! “ Ơ, em tưởng cái màu ấy là màu trắng?”
 Bị phê bình, thầy cãi: “Bảo theo cái sách hướng dẫn, tôi theo đúng như thế mà!” Khổ, trong sách người ta tô mực thì đen, trên bảng thầy tô phấn thì làm sao mà đen được cơ chứ!
Dự tiếp một tiết của cấp 2, bài “Nghĩa của từ” học ở lớp 6. Thầy Nguyệt có vẻ ăn nói rành rọt hơn. Phần đầu dạy trôi chảy vì hầu như đọc khái niệm trong sách giáo khoa. Đến phần nêu ví dụ về sự phân nghĩa của từ, đáng ra phải hỏi: Nghĩa của từ “giáo viên nam” “giáo viên nữ” cụ thể hơn nghĩa của từ “giáo viên” như thế nào? Thầy lại hỏi:
-         Em nào biết, giáo viên nam khác giáo viên nữ chỗ nào?
Cả lớp im lặng.
-         Em nào biết, giơ tay lên!
Vẫn im lặng.
Thấy thầy hiệu trưởng nhíu mày, thầy đâm hoảng.
-         Hỏi thế mà không ai biết à? Không hiểu tiếng Kinh à? – mặt và tai thầy đỏ lựng lên – biết thế nào thì nói thế đó chứ!
Thấy thầy nổi khùng, một em rụt rè giơ tay:
-         Thưa thày, nói tiếng Kinh thì xấu hổ với các thày cô lắm. Em nói tiếng Thái được không?
-         Nói đi, tiếng gì cũng được!
-         Thầy giáo thì mi qui còn cô giáo thì mi hí…
Cả lớp cười, thầy cô cũng không nín được cười.
Thầy hỏi khó thế thì trò phải đưa bộ phận sinh dục ra mà phân biệt chứ sao.
Tối thứ bảy, tôi kể chuyện với “chú”, “chú” không cười, im lặng một hồi rồi bảo:
-         Xong nghĩa vụ, chuyển về Hưng Nguyên dạy nhé?
-         Nhưng “cháu” ở Quỳ Hợp mà.
-         Cây mất gốc có sống được không?
-         Được chứ, rau khoai đó, cắt ra từng đoạn trồng vẫn sống.
-         Đó là dây.
-         Cây sắn này, câu dầu trẩu này, cây xương rồng này…đầy cây chặt gốc trồng nơi khác vẫn sống.
-         Toàn lí sự cùn!
-         Cùn mà sắc chặt không đứt!
Nói vui thế thôi, tôi biết chuyển về Hưng Nguyên là điều không thể. Xong nghĩa vụ, phòng GD Quế Phong sẽ chuyển tôi về phòng GD Quỳ Hợp, bởi tôi là người Quỳ Hợp. Muốn về Hưng Nguyên phải có ô dù, có tiền. Cả hai tôi đều không.
Tôi đã từng từ chối về quê mình vì thói gia trưởng quá mức của người ấy, qua cầu ván rút rồi còn đâu?


  

Thứ Sáu, ngày 29 tháng 8 năm 2014

NGƯỜI MIỀN NÚI 4


   Tối thứ bảy, hai chị em đã trùm chăn chuẩn bị ngủ thì có ánh đèn pin loang loáng dọi  vào cửa. Tôi thoáng nghĩ đến một trai bản lết bết quần ống loe nên nằm im thin thít. Tiếng gõ nhẹ vào tấm liếp, Lan à, cho gặp đồng hương Quỳ Hợp với. Tiếng Hưng Nguyên đặc sệt. Tim tôi bỗng đập rộn ràng. Một nơi xa ngái này mà có người Hưng Nguyên? Chị Lan nhỏm dậy, để em châm đèn. Ánh đèn dầu lù mù đủ  soi rõ một khuôn mặt đen sạm, một vầng trán cao và đôi mắt lấp lánh như cười. Tôi lí nhí, chào chú ạ. Ừ, cháu ngoan ngủ sớm rứa? Dậy nhận đồng hương mồ. Chú người Hưng Nguyên ạ? Hưng Nguyên, nhưng lên Quỳ Hợp lâu rồi. Ồ, thế chú cháu mình đồng hương kép. Thế à? Cháu cũng quê Hưng Nguyên à? Chú ở xã mô Quỳ Hợp? Châu Quang. Thế à, nghe nói ông đồn trưởng cũng người Châu Quang. Bé lên đây đã quen khí hậu chưa?  Cũng tàm tạm. Thế vợ con chú cũng người Châu Quang ạ? Ừ, nhưng chú mới có hai con, chưa có vợ. Tôi cười, chú chưa vợ sao có con? Đơn giản thôi, vì chưa cưới mà. Chưa cưới thì chưa được gọi là vợ, mới là người yêu. Thế sao không cưới đi? Thì xin đơn vị về phép cưới mà họ chưa cho, bảo cứ yêu đi đã, yêu thì lâu chứ cưới có mấy chục phút, lo gì. Chỉ nói chuyện vớ vẩn thế mà vui ra phết. Cũng có thể giọng nói quê hương làm tôi cảm mến người sĩ quan này. Cũng có thể do cách nói chuyện vui vui, hài hước mà tôi thấy thích.
  Tôi tiễn khách ra đến cửa, định quay vào thì chú ấy hỏi: Đã biết câu tiếng Thái chưa? Chưa ạ. Hừm, vào đây ít nhất cũng phải biết câu chào. Khó không ạ? Không khó. Vào nhà người ta, phải hỏi ngay từ cầu thang: “Cu xì mưng, mưng xì cu bọ?” Nghĩa là gì ạ? Lâu ngày bác có khỏe không? Nói xong, chú rảo bước thật nhanh.
    Tôi ghi nhớ 6 tiếng ấy, lẩm nhẩm cho thuộc để ngày mai vào bản điều tra phổ cập.  Hai chị em lò dò bước lên cầu thang nhà trưởng bản. Thấy chủ nhà đang ngồi vót sợi mây, tôi nói thật to như một con vẹt: “ Cu xì mưng, mưng xì cu bọ?”Chị Lan trợn mắt: “Mi nói quái quỉ chi rứa?” Ông trưởng bản nhìn tôi, ngạc nhiên một thoáng rồi nhếch mép cười, chẳng nói gì.  Chị bước vào nhà: “ Cọ dụ bọ?” ( Có khỏe không?) Chủ nhà đứng dậy, đưa tay ra: “ Cọ dụ, nhăng cọ dụ bọ?” ( Khỏe, còn khỏe không?”) tôi cứ tròn mắt nhìn, câu chào này chẳng giống câu mình thuộc gì cả. Chị Lan trao đổi với trưởng bản về việc phổ cập, rồi chúng tôi đi từng nhà, ghi chép tên tuổi của các em trong độ tuổi đến trường. Vào nhà ai chị cũng lặp lại câu chào ấy và chủ nhà cũng đáp lại y hệt vậy. Tôi  lẽo đẽo theo chị, thắc mắc câu tôi nói nghĩa là sao thì chị gắt:  đừng bao giờ nói câu đó, thế thôi. Hỏi tên con, nhà nào cũng Hồng, La hay Cả ,Cáng…biết làm sao mà phân biệt? Người Thái  con gái đầu  gọi là Hồng, con trai đầu thì gọi là Cả, con thứ gọi là La,  là Cáng. Hỏi tên đi học của chúng là gì? “Ôi, cái đó thì hỏi nhà trường chứ, tên đi học các thầy cô đặt cho mà, tao có đặt đâu.” Cháu sinh ngày tháng năm nào? “Hắn sinh cùng với con tu đực này này.” Hay: “ Hắn sinh vào mùa gặt rãy đó” Có chị bảo: “ Khi sinh hắn, tao đang đi ngủ trong rãy mà, mưa quá không về được…” Cuối cùng, chúng tôi phải áng chừng lớp mà suy ra tuổi, còn thích ghi ngày tháng nào thì tùy. Học sinh học hết tiểu học chưa có giấy khai sinh, chẳng sao cả. “Đi làm rãy thì chỉ cần cái tay cho khỏe, cái chân cho vững, còn giấy khai sinh mà làm gì?” Bịa hết số liệu, bịa cả tên để có danh sách thống kê gửi ra phòng giáo dục, còn nhà trường không có sổ điểm, không học bạ, không hồ sơ lưu trữ gì hết. Việc điều tra chỉ dừng lại ở chỗ ghi số con của mỗi gia đình, còn thì rủ nhau đi mua chuối, mua đu đủ, mua trứng gà…
  Cuối cùng thì tôi cũng hỏi được nội dung “câu chào” mà chú sĩ quan đồng hương bày hôm ấy. Thế có điên không chứ! Thế có giận không chứ! Phải chửi, phải chửi  một trận cho hả dạ. Nhưng chửi thế nào đây? Tôi nghĩ ra bao nhiêu lời để trả đũa hắn ta, và rồi lại sợ hắn ta không đến nữa. Hắn cũng không phải người Quỳ Hợp. Tự nhiên bị lừa một cú giữa trời, thế có tức không cơ chứ. Nếu bây giờ ai nói với tôi câu đó, tôi chỉ cười toe toe và “ăn miếng trả miếng” ngay, nhưng lúc đó cô giáo “búp bê” mới 20 tuổi. Trong sáng lắm, mộng mơ lắm.Tôi nghĩ hắn ta ăn cắp niềm tin của tôi, hắn ta xúc phạm sự thân thiện quí mến của tôi. Vì câu ấy, tôi không dám gặp lại ông trưởng bản nữa. Ngượng không kể hết. Đồ tồi! Đồ đểu! Thứ bảy mà xuống thì biết tay tôi! Nhưng nghĩ phải chường ra mà nói chuyện với hắn cũng đã chín mặt lên rồi.
  Tối thứ bảy, vừa mới ăn cơm xong thì hắn lò dò đến. Mặt cứ hơn hớn mới đáng ghét chứ! Bảnh bao ghê, quần áo sĩ quan không thấy mặc, hắn diện một bộ quần bò áo trắng đóng thùng cẩn thận. Dù đang tức, tôi vẫn nhận ra hắn mặc bộ này trẻ hẳn so với bộ quân phục sĩ quan.
  Nghe hắn chào, tôi nguýt một cái sắc như dao lam rạch lên mặt. Hắn vẫn cười cười, coi thường thái độ của tôi. “ Hà, bữa ni đến để nghe chửi đây! Thưa …bản cô nương, kẻ hèn này đã sẵn sàng!” Trời ơi! Hắn đi guốc trong bụng mình thế à? Hắn biết hôm nay mình sẽ chửi à? Mặt tôi đỏ nhừ. Đã thế, tôi không thèm chửi, không thèm nói gì. Nói với hắn chỉ tổ phí lời! Nhưng tai hại hơn, giờ thấy hắn, bao nhiêu câu sắp sẵn mấy ngày qua tự dưng bay biến hết. Rõ ràng tôi trở thành kẻ ở thế yếu, thế bị động nên tôi phải gồng lên khỏi mất mặt trước hắn. Và suốt buổi, tôi cứ lầm lầm lì lì, cố tạo một tảng băng trên mặt.. Hắn đùa, hắn kể chuyện, hắn cười…Thì mặc hắn với chị Lan, tôi không nghe, không thấy, không biết! Sau cùng rồi hắn cũng trở giọng nghiêm túc, bảo bắt tay xin lỗi. Lãng xẹt! Tôi vẫn giữ nguyên thái độ. Hắn bảo khi nào tôi tha lỗi cho hắn thì hắn mới về. Ừ thì cứ ngồi đó, Tôi trùm chăn ngủ. Tuổi 20, tôi vẫn chưa trở thành người lớn.
  Mùa đông nơi vùng biên rét tê rét tái. Sáng ra, đã tám giờ mà sương chưa tan. Những ngọn núi phía xa phủ mây trắng xóa.Chậu nước đặt ngoài hiên đóng váng. Rửa tay, cảm giác hàng trăm mũi kim châm vào da buốt nhói. Theo lệ thường, khi ra suối đánh răng rửa mặt, chúng tôi vác theo ống bương múc nước về dùng. Đi từ suối về nhà, bàn chân tê cứng mất cả cảm giác. Trong những ngôi nhà sàn, lửa rừng rực cả đêm lẫn ngày. Hàng trăm ngọn lửa không thay thế được ông mặt trời mùa này dậy muộn nên cái rét vẫn căm căm luồn vào mọi nẻo. Thế mà học sinh đi học phong phanh một manh áo mỏng, có khi không đủ cúc.
   Ngày 22/12, đồn mời nhà trường lên giao lưu. Chương trình giao lưu gồm   múa, hát, đọc thơ.  Đồng bào ở đây phụ âm Đ thì phát âm là L. Ví dụ “đông” lại bảo là “lông”. “Đồn” thì nói là…Dù  sửa mấy, các em vẫn không chữa được. Tôi sáng tác một bài thơ và cho một em học sinh lên đọc:
                       Đồn ta đông thật là đông
Chúng cháu qua lại mà không dám vào.
Đồn ta đóng ở trên cao
Khi đón nắng sớm, khi chào hoàng hôn
Các chú ăn, ở trong đồn
Thủy chung, gắn bó còn hơn  nhà mình
Giữ cho cuộc sống yên bình
Cầm chắc tay súng nơi miền biên cương.
Chúng cháu yêu mến quê hương
Càng yêu các chú thân thương trong đồn.
Hắn dẫn chương trình, biết các cô và mọi người cười khúc khích  nhưng mặt cứ tỉnh bơ, khen bài thơ của cháu hay lắm, tình cảm lắm, các chú xúc động lắm…làm cô bé đọc thơ sướng rơn. Kết thúc buổi giao lưu, hắn gặp tôi, chìa tay ra: “Nào, thế là một đều nhé. Giỏi!” Tôi giả vờ ngạc nhiên, không hiểu, hắn nhìn sâu vào mắt tôi, thấu tận tim đen: “ Từ trước đến nay, trường chẳng có ai làm thơ cả, cháu ạ.”
  Hắn vẫn xuống chơi vào mỗi tối thứ bảy, chủ yếu là để cãi nhau cho sướng. Thực ra thì hắn chỉ hơn tôi có năm tuổi, có hai con mắt chứ vợ con gì. Một hôm, hắn đưa xuống một tờ quyết định viết bằng tay, nét chữ mềm mại thật đẹp, nội dung của tờ quyết định: căn cứ vào độ nở của mông, độ phồng của vú, nay quyết định chuyển từ “cháu” sang “em” cho các cô giáo có tên sau đây….
  Nhưng quyết định đã bị hủy sau khi kí hai phút!
  Thực ra, xưng hô thế nào có quan trọng gì, vấn đề quan trọng là vốn ngôn ngữ và hiểu biết của tôi đủ để đấu khẩu với hắn trong các lĩnh vực. Và khi còn  có người để cãi nhau, cuộc sống sẽ bớt đơn điệu, nhàm chán đi nhiều.