Chân thành cám ơn các bạn đã đến với blogger: HƯƠNG NGÀN - Của Hồ Nhật Thành!

Thứ Bảy, ngày 23 tháng 5 năm 2015

HOA TRÊN ĐỈNH NÚI 3

(Hôm đầu tôi kể, nhưng giờ tôi nhường lại cho Na kể  nha.)
CHỊ TẠP VỤ

    Này, giơ tay  đón lấy đi! Na không giơ tay mà xòe tà áo ra, ngước mắt lên nhìn Yến đang leo tít trên ngọn dừa.  Ném vào đây! Na bảo. Yến cười ngặt cười nghẽo, nói nhìn Na sao giống trong bức tranh dân gian quá. Bức tranh nào cơ? Tranh hứng dừa ấy. Hi hi…Ừ mà Yến ơi, mình định khi nào dạy phần văn học dân gian thì cho học sinh thi vẽ tranh minh họa đấy, được không? Được quá đi chứ, còn Yến sẽ làm một cái thước đa chức năng nhé: Kẻ này, đo góc này, đo độ dài này, và gắn cả thiết bị đo nhiệt độ nữa này, tuyệt không? Tuyệt! Nhưng nếu có thể gắn vào đầu thước một cái "cào" năm răng,  vạch một cái được ngay khuông nhạc, biết đâu được Hội đồng khoa học cấp bằng sáng chế cũng nên. He he...Ừ, Na cứ chờ đi, Yến sẽ thành người nổi tiếng đấy,  còn giờ thì  chìa áo ra mà …hứng dừa nha. Nói rồi Yến vặn một quả  to đùng quẳng xuống. Bịch! Na giật mình, mở mắt nhìn quanh.  Chiếc túi treo trên cọc màn rơi xuống ngay đầu Na. Bên cạnh, hơi thở của Yến vẫn đều đều. Hóa ra là mơ! Giấc mơ lạ kì! Nó y chang câu chuyện hai đứa đã nói với nhau trong thư viện trường dạo trước! Bao ước mơ, bao dự định thời sinh viên như những cánh chim  màu hồng cứ thi thoảng lại  bay qua trong giấc mơ của Na.
  Hình như có tiếng trẻ con khóc? Đúng thật, tiếng khóc ngằn ngặt nhưng liên tục.  À, chắc con bé nhà chị Thu. Na quay sang ôm Yến, định dỗ giấc ngủ trở lại nhưng rồi cô bật dậy…
  Căn phòng nhỏ bừa bộn bao nhiêu thứ: ghế mây , cũi nhốt trẻ, mấy cái chai  ngả nghiêng, can hai lít, can năm lít, hai cái bì nơi góc phòng, một chậu đồ chưa giặt đun dưới gầm giường…Trên giường, đứa chị khoảng ba bốn tuổi ngủ ngon lành, còn đứa em đâu gần một tuổi vừa bò vừa khóc, mũi thò lò tận miệng. Na giơ tay định bế, chợt nghe mùi thum thủm. Trời ạ, con bé ị bậy, cứt dính bết vào chiếu, quệt vào chăn, vương cả vào màn, vào gối. Chân tay nó cũng vàng khè. Cả thân áo phía trước của nó ướt đầm.  Na chưa biết làm thế nào thì nghe tiếng dựng chân chống xe đạp đánh “cạch”.  Chị Thu về, phía sau gác- ba- ga là một thùng giá đầy tú ụ, những cọng giá chen chúc nhau đội lên, đều tăm tắp, trắng nõn và mập mạp.
-         Em nghe cháu khóc, chạy đến thì nó đã…
-         Trời ơi! Con với chả cái! Sắp mưa rồi, biết giặt khi nào mới khô hả trời!
Chị Thu rít lên, cúi xuống gầm giường lôi chậu đồ đổ ra nền nhà rồi tất tả vừa xách chậu, vừa na con bé xuống bếp múc nước xoàn xoạt, khoát khoát, rửa rửa.
Đặt con vào cũi, chị quay sang cái gường bề bộn đủ thứ.
-         Dậy, dậy!Mày có dậy không hả?
Vừa nói, chị vừa đét vào mông con bé mấy cái rõ đau. Nó choàng dậy, ngơ ngác không hiểu sao mình bị đánh. Lấy tay dụi mắt,nó mếu máo khóc.
-         Xuống ngay khỏi giường để tao dọn! Còn ngồi đó mà khóc! – Chị Thu lại hét lên.
Nó vội nín thinh, lồm cồm bò xuống và đứng nép bên góc phòng sợ hãi nhìn mẹ vơ tất cả chăn, màn, gối cuộn vào chiếc chiếu.
-         Thật là đồ vô tích sự! Chồng với chả chàng! Đã bảo rồi, vứt mẹ viên phấn đi, ra ngoài cầm con dao, cầm cái cuốc mà nuôi con. Thầy chẳng thầy thời chớ, để  con nheo nhóc, khổ sở, không có nổi cái nhà mà chui vô chui ra, thầy bà gì?
Na nhìn quanh. Chẳng có ai cả. Thế có nghĩa là chị Thu đang chửi  một mình? Chị  tưởng tượng người chồng đang đứng loanh quanh đâu đó? Chị  hốt  mớ đồ giữa nhà vào chậu, tay bưng, tay ôm  quày quả ra giếng. Những thanh âm vừa cao, vừa sắc cứ xa xả:
-        -  Trồng người với chả trồng ngợm! Không có tay con này  ủ giá, nấu rượu sấp ngửa tối ngày thì phơi trắng mặt, cơm không đủ mà ăn! Đàn ông đàn ang phải biết ra ngoài đời mà kiếm sống, mà đua chen với người ta chứ, sấp mặt trong cái bảng đen, rồi lúc nào cũng chỉ trên răng dưới ca tút…
Đôi tay  gầy guộc níu từng gàu nước, tấm thân càng như lép kẹp trong bộ đồ vải phin  quá mỏng. Chị bặm miệng bưng xô nước trút vào chậu  và  trút nỗi bực dọc ngập tràn trong lồng ngực ra ngoài theo từng lời nói:
-         Đã bảo rồi, thiên hạ những thằng thầy khôn ngoan, tháo vát,  nó vứt giáo án ra ngoài bờ  ngoài bụi cả đấy, đi làm thịt lợn, đi buôn bán, đi đào vàng…Làm gì  có tiền mà chẳng được. Cần cóc gì vinh quang! Lợi ích trăm năm cái khỉ mốc! Con này không lăn lộn làm thêm, không thức khuya dậy sớm trầy mày trật mặt  có mà chết đói cả lũ, ngồi đó mà lo trăm năm với chả nghìn năm.
Chị vò, chị lấy bàn chải xát mạnh, rồi vắt, rồi múc nước, lại vò, lại vắt, lại xả. Cục ấm ức lại trào ra:
-         Thiên hạ người ta chân trong chân ngoài, tranh thủ buôn cái này, bán cái kia, đằng này chỉ cắm cúi vào mấy cuốn sách, con đói mặc con, vợ đau mặc vợ, người ta nói chuyện làm ăn buôn bán cứ ngơ ngơ ngác ngác như người trên cung trăng!
Cứ thế, miệng chửi xa xả, tay làm thoăn thoắt, một đống đồ đã được chị giặt sạch, phơi giăng giăng cả trong nhà, ngoài thềm. Con bé lớn bày mấy thứ đồ hàng cũ kĩ cho em chơi trong cũi, em cầm cái ống nhựa, đập đập lên đầu chị, cười hỏn hẻn.
Yến đến, hai đứa nhón chân phơi chiếc chiếu  lên sào nứa. Chị dịu giọng:
-         Hai em  giúp chị nhé.
-         Dạ.
Giờ thì chị đang ngồi lặng lẽ cho con bú. Con bé miệng ngậm núm vú bên này, tay vân vê núm vú bên kia, đôi mắt trong veo liếc nhìn ánh mắt âu yếm dịu dàng của mẹ. Con chị đứng dựa vào vai mẹ, nhón nhén gỡ từng hạt ngô luộc, véo von:
-         Em ta hư mẹ nhỉ? Em ị bậy  thối ơi là thối!
-         Con ăn xong ở nhà trông em cho mẹ đi bán giá, nghe chưa?
-         Dạ - Con bé ngoan ngoãn đáp.  
-         Thế…sáng ra chị đi lấy giá về để bán đấy ạ?- Na bắt chuyện.
-         Đâu. Giá chị ủ đấy chứ. Sáng nào chị cũng dậy sớm để đi nhập. Nhưng hôm nay họ không lấy vì sợ mưa không bán được. Giờ lại phải vào trong làng, nhờ người ta ủng hộ cho, ghi nợ đến mùa lấy lúa. Mà cũng chẳng biết có hết không nữa. Xung quanh đây, các cô giáo hầu như đều ủ giá, nấu rượu, đi bán là cứ chập vào nhau. Mà dân thì có nhiều tiền gì cho cam. Toàn nợ là nợ!
Dừng một lát, chị nói như phân trần:
-         Trong nhà có đàn ông tháo vát thì đỡ cực, đằng này lão nhà chị là loại mọt sách, cấm có lo được việc gì. Đồng lương nhà nước chưa đủ mua hai yến gạo, không làm thêm lấy gì nuôi con? Trăm công nghìn việc đổ lên đầu, nhiều khi bực phát điên lên được.
-         Thầy dạy trường nào vậy chị? – Yến hỏi.
-         Dạy toán  trường Kim Sơn ở ngay đây, nhưng hôm nay phòng điều động đi tiếp thu chuyên đề ở sở. Nói đáng tội, chuyên môn lão cũng giỏi, nhưng thời buổi này, bạn bè đồng nghiệp lão bỏ nghề đầy ra đó, cái nghề dạy học với đồng lương chết đói, giỏi mà làm gì?
 Chị lấy tay vuốt vuốt đám tóc tơ của con bé:
- Nào, giờ thì ở nhà với chị cho ngoan, nghe không?
Con bé  cười toe toét, đưa bàn tay tí xíu sờ sờ trên mặt mẹ.
Na tò mò:
- À, chị ơi, trường Thông Thụ thì ở đâu ạ?
-         Hai đứa đi Thông Thụ a? Xa lắm, giáp Lào, đi bộ một ngày rưỡi mới đến nơi.
Na và Yến lặng nhìn nhau. Chị Thu đặt con bé vào cũi, lại dặn:
-         Ở nhà trông em cẩn thận nha con, đừng để em trèo ra khỏi cũi đấy.
-         Dạ, con biết rồi!
Chị bỏ can rượu vào làn, treo trước ghi - đông, tất tả đạp xe đi. Phía xa,  mây  như những đụn khói đen kịt đùn lên. Bầu trời thoáng chốc vần vũ, thấp dần mãi xuống. Gió thổi mạnh, những ngọn xoan  reo vù vù.  Mối bay loạn xạ, rập rờn, chao đảo trước  trận giông đang bắt đầu ập tới.    
(còn nữa)



-          

Thứ Bảy, ngày 16 tháng 5 năm 2015

HOA TRÊN ĐỈNH NÚI 2

ĐÊM CHỜ
Hai đứa lọt thỏm giữa mênh mông màn đêm ở cơ quan phòng giáo dục. Tất cả các phòng đều im ỉm khóa vì đang có đợt chuyên đề dài ngày ở Vinh. Ở cuối dãy nhà kí túc, gia đình chị tạp vụ cũng đã tắt đèn. Na không tài nào chợp mắt được. Cảm giác bềnh bồng chao đảo lắc lư khi đi trên xe vẫn chưa mất hẳn. Lũ chuột cắn nhau, đuổi nhau chí chóe, tha  những tờ giấy loạc xoạc, cọ răng vào góc tủ rồn rột…Màn đêm là thế giới của chúng, chúng tha hồ lục lọi,tha hồ cắn phá, tha hồ cấu véo,tha hồ vật lộn, rồi kêu chít chít loạn cả lên.
Rón rén dậy, bật diêm thắp đèn, Na lại lấy tờ quyết định có dấu son đỏ chót ra ngắm nghía. Dòng chữ vẫn còn tươi roi rói nét mực . Không ngờ mọi việc lại đơn giản chóng vánh như vậy. Khi hai đứa tìm đến được phòng giáo dục đã gần năm giờ chiều. Thầy cán bộ tổ chức đang khóa cửa để về, quay ra gặp bộ dạng lếch tha lếch thếch của hai cô gái:
-         Giáo sinh mới đến à?
-         Dạ.
-         Ở đâu?
-         Dạ, một Diễn Châu, một Quỳ Hợp ạ.
-         Học trường nào?
-         Dạ,cao đẳng sư phạm Nghệ Tĩnh ạ.
-         Môn?
-         Dạ, một toán, một văn.
-         Tốt, vào đây. May không mai tôi đi Vinh, một tuần mới về đấy.
Thầy lục trong tủ, lôi ra hai tờ quyết định chưa điền tên nhưng đã có chữ kí trưởng phòng và con dấu đỏ chót.
-         Hai cô nạp quyết định của sở đây.
Yến đưa ra tờ quyết định chung của hai đứa, thầy hí hoáy viết rồi chìa ra:
-         Đây, đi Thông Thụ nhé. Tí nữa cô Thu (tên chị tạp vụ) sẽ chỉ phòng cho hai cô ở tạm, mai mốt có người đến đón.
Yến rụt rè:
-         Dạ, thưa…thầy, Thông Thụ ở đâu ạ?
Thầy nhìn cả hai đứa, cười:
-         Ở đâu đi khắc biết, trong huyện này thôi, có qua Lào đâu mà sợ.
 Thầy quay sang khóa tủ rồi giục:
-         Thôi, lại đằng cuối nhà kí túc gặp cô Thu, giờ tôi phải về mai còn đi Vinh. Nghe đài báo lại sắp có đợt mưa bão.

Có lẽ đêm đã trôi qua nửa bên ngày khác.Lũ chuột thôi rúc rích. Có thể chúng đã quây với nhau trong một cái ổ nào đó, hay chúng thấy ánh đèn mà im lặng rút lui. Na lại nhìn ra, màn đêm đen đặc tưởng chừng như có thể xắn ra từng miếng. Na hình dung về ngôi trường mà mình sẽ gắn bó, hình dung về khuôn mặt của những em học sinh mà Na sẽ dạy dỗ, sẽ yêu thương, mường tượng cái bục giảng lần đầu tiên mình lên lớp… Ừ nhỉ, thế là mình đã thành cô giáo.
 Hôm biết có danh sách đi Quế Phong, thấy Na buồn, thầy thủng thỉnh  hút thuốc lào, khoan thai nhả từng vòng khói, nói chậm rãi:
-         Cái chữ cũng như hạt giống. Đã sinh ra hạt giống là để gieo trồng. Gieo ở đâu không quan trọng, miễn là làm thế nào để nó nẩy mầm, xanh cây, đơm hoa,kết quả.
 Mẹ dừng tay nhặt đỗ, gắt:
-         Giống với chả má! Đi trên rú trên ri, con gái  có thì, qua thì rồi có ma nào rước!
Thế là thầy mẹ lại cãi nhau. Đã bao nhiêu lần vì việc học của Na mà thầy mẹ bất đồng như thế.Thầy tự hào về Na bao nhiêu thì mẹ lại bực bội bấy nhiêu. Hễ Na thắp đèn hơi khuya, mẹ lại ca cẩm: “Học vừa thôi, mới mua nửa chai dầu, sắp hết rồi đấy. Học lắm có mài chữ ra mà ăn được không? Con gái lắm chữ chỉ tổ ương bướng. Rồi thì cãi chồng xoen xoét, ích gì?” Na vặn ngọn đèn nhỏ lại như hạt đỗ xanh, che sách lại mà học. Buổi tối ngồi nấu cám lợn, ghé sách bên bếp lửa mà học. Có lẽ vì phải  học sậm học sụi, học giấu học lén mà Na lại càng khao khát khám phá thế giới kì diệu trong những cuốn sách. Na hiểu, chỉ vì cuộc sống vùng nông trang  quá cơ cực. Đất trồng màu, chủ yếu là ngô, là lạc. Hoa màu chưa nẩy mầm thì cỏ đã lún phún chen nhau. Quanh năm lo cỏ, bốn mùa lo cỏ. Cuốc cỏ đến rát mặt, nhổ cỏ đến chai sần cả tay, ngồi bứt cỏ đến mòn cả đít. Học hành đèn sách trở thành thứ xa xỉ. Cả xóm nông trang có ba đứa theo học cấp ba, mình Na là gái.
 Chợt Yến trở mình, nói ú ớ câu gì đó rồi cười khanh khách. Chẳng biết cô nàng mơ thấy chuyện gì mà vui thế. Na nhớ lại hai năm trước đây…
Hôm đó đến lượt Na trực nhật. Nghĩa là lên bếp của nhà trường chọc lò nấu cơm làm “tiết mục đêm khuya” cho cả phòng. Trời lờ mờ ánh trăng. Khu kí túc sinh viên xây trên một nghĩa địa cũ nên nỗi ám ảnh về những con ma làm đứa gan lì nhất cũng nhiều phen rụng tim. Thế nhưng, ma thì chưa gặp mà bảo vệ thì gặp rồi. Vô phúc bị bảo vệ tóm được, thế là  phạt đi vắt than. Vừa vắt than, vừa nghe mấy chị cấp dưỡng ca bài cải lương muôn thuở:  “ Chúng bay chỉ biết ăn tàn phá hại! Buổi tối người ta nhen lò để sáng mai có bếp mà nấu cho kịp chứ? Chọc lò sập rồi, đến 12 giờ trưa đi học về chưa có cơm, lại kêu, lại réo!Cứ bảo sư phạm là mô phạm, mô phạm mà thế à?” “ Bác ơi, sư phạm là ăn như sư, ở như phạm đấy ạ!” “ Được, thế mấy con phạm nhà bay ngồi đó mà vắt than đến tối” Nói thế nhưng bác lại cười thật tươi: “Thôi, khoán cho mỗi đứa ba mươi viên, vắt nhanh còn về để học”. Phạt rồi hôm sau vẫn thế, những túi gạo quê của mấy đứa nhà ở Hưng Nguyên, Nam Đàn, Quỳnh Lưu nấu lên mới nghe mùi thơm đã toát hết cả mồ hôi lưỡi, nhịn sao được?
 Na lễ mễ bưng nồi vào bếp qua cái hẻm quen thuộc. Đặt nồi xuống, sờ soạng trong góc bếp. Đây rồi! Cái thanh sắt dùng để thông lò! Na nhẹ nhàng gạt mấy hòn than chưa kịp bén lửa. Một khoảng rực hồng hiện ra. Chưa kịp bắc nồi, Na lạnh người khi thấy một bóng đen lẻn vào. Ngồi thụp xuống, tim đập thình thịch, Na nín thở quan sát. Hắn tiến đến gần ...Tự nhiên lỗ mũi Na ngứa không chịu được. "Hắt xì..."  Choang! Cái nồi trên tay hắn rơi xuống. Gạo, nước đổ tung tóe. Na thầm thì: “ Tớ cũng đi nấu cơm mà.” 
“ Đổ...hết rồi!” Giọng nói nghe ướt nhòe nước mắt. Hai đứa lọ mọ hốt...Chỉ cứu được độ một phần ba! Na vốc gạo từ nồi mình sang cho hắn.
- Chết, làm thế lỡ ra....
- Yên tâm, tớ chuộc lỗi.
  Hai đứa mò mẫm ra giếng múc nước, vo gạo...
- Ma!?- Cả hai gần như đồng thanh, lạc cả giọng, lần mò nắm chặt tay nhau, run lẩy bẩy. Nín thở. Lấm lét nhìn về phía phát ra âm thanh đáng sợ. Tiếng ma nữ:
- Ra trường rồi biết có về được một nơi hay không? Em biết tỏng tính anh, đi đâu vui đó, rồi anh sẽ quên em ngay cho mà xem!
Tiếng ma nam: 
- Chỉ được cái nói xấu cho người tốt! Dù ở đâu, anh cũng chỉ nghĩ về em thôi. Nào, cho anh thương...
- Ứ cần!- Ma nữ nhõng nhẽo. 
Hai cái bóng đen dưới ánh trăng mờ quyện chặt vào nhau. Hai đứa  bấm tay, cười rinh rích. Hóa ra nơi góc khuất của nhà bếp thường lưu truyền bao câu chuyện ma rùng rợn này lại là nơi lí tưởng nhất cho những cặp yêu nhau.
    Bưng cơm về, Na lấy cớ đau bụng và lên giường, đắp chăn kín mít. Hà “sùng” lo lắng:
-   Đau thế nào? Mình có lọ dầu gió Trường Sơn đây, xoa tí là khỏi ngay, rồi dậy mà ăn cơm.
 Không cần đâu, các cậu ăn đi, mình không muốn ăn.
 Nhưng cậu không ăn thì bọn mình nuốt sao nổi? – Mai “dói” giả bộ rầu rĩ.
Mùi cơm lọt qua thớ chăn, thông qua mũi, thấm vào tận từng tế bào trong dạ dày, trong ruột non, đánh thức cơn đói trong Na trỗi dậy. Loáng một cái, bảy bát cơm đã yên vị trong bảy cái dạ dày chúng nó. Bỗng Lan Hương dè dặt:
-   Sao cũng chừng đó gạo, hôm nay tớ thấy...
-   Xuỵt!
-   Ừ nhỉ, trứng luộc còn ngót nữa là...hi hi... Giọng Lộc “ choẹt” lè rè với cái cười đầy ẩn ý.
 Chiều hôm sau, khi Na đang ngồi ở thư viện ghi chép mấy câu tục ngữ vào sổ tay thì Yến đến.
-   Na đặt chỗ ở đây rồi hay sao mà hôm nào cũng ngồi thế?
-   Gần như vậy.-  Na ngẩng lên.
-    Lúc tối cả phòng bị ăn một bữa “cơm hấp than đá” – Nó cười để lộ hai chiếc răng khểnh xinh xinh.
-   Vậy bọn nó có nói gì Yến không?
-         Còn nói gì? Mình kể, cả bọn cười vỡ bụng rồi thi nhau chén sạch.
-  Cậu đọc gì?
-   Mình còn cả đống bài tập, thì giờ đâu mà đọc. Lên gặp Na một chút thế thôi.
-   Ai bảo Yến thi vào khoa toán mà học cho khổ? Bọn mình học văn khỏe re! Có đứa cứ nhởn nhơ thế mà đến kì thi cũng đủ điểm như thường!
- Này, không mượn cậu thương hại đâu. Bọn mình chỉ khổ ba năm, còn khi ra trường đi dạy thì nhàn: “ dạy toán, học văn, ăn thể dục”- Yến lại cười khoái chí – Ôi chà, thật đáng thương hại cho những kẻ nhàn ba năm mà khổ cả đời, hì hì...
Na nguýt nó:
- Dân toán là phải, chỉ được cái dùng từ ẩu! Người ta chỉ dùng từ “thương hại” khi phải rủ lòng thương xót người khác, biết chưa? Dạy văn có vất vả thật, nhưng đâu phải bất hạnh mà  thương hại? Người dạy văn mới đúng là “kĩ sư thiết kế vạn tâm hồn” đấy, hiểu không?
- Triết lí nhiều quá, người choắt đi là phải - Yến lại nheo mắt cười thật duyên.
Na chìa tay ra:
-Nào, mình sẽ  là bạn của nhau!
- Yến đến đây cũng chỉ để nói thế.
Hai đứa bắt tay nhau thật chặt.

  Na lại nhìn khuôn mặt của Yến. Trong giấc ngủ, nó càng đáng yêu lạ! Xô khẽ cô bạn vào phía trong, Na nhẹ nhàng nằm xuống. "Ừ, ngày mai mình sẽ hỏi chị Thu xem Thông Thụ nằm ở chốn nào!"



            (còn nữa) 

Chủ Nhật, ngày 10 tháng 5 năm 2015

HOA TRÊN ĐỈNH NÚI -1

       Phần I: KHỞI CUỘC HÀNH TRÌNH
Na trở mình, bỗng giật thột khi thấy trời đã lờ mờ sáng. Bật dậy, ngó xuống bếp, ánh lửa bập bùng biết thầy đã dậy nấu cơm.
-         Sáng rồi hả thầy?
Thầy đang hơ tàu lá chuối trên ngọn lửa, không quay lại, giọng trầm ấm:
-         Gà mới gáy lần hai đó con. Ngủ được thì ngủ thêm chút nữa đi, lát thầy thức dậy.
Na ngồi xuống chiếc ghế con cạnh thầy:
-         Thôi, con ngồi với thầy cho vui, giờ ngủ lại cũng khó.
Thầy rọc tàu lá chuối, đặt ngay ngắn  từng mảnh chồng nhau trên chiếc mâm đồng rồi xới ba bát cơm, loại bát men Trung Quốc, úp tròn trịa trên lá. Mùi cơm thơm lan tỏa trong căn bếp ấm cúng.Tay thầy khéo léo ép, xoay, rồi gói lại thật vuông vức như chiếc bánh chưng. Lấy lạt cột lại, thầy bảo:
-         Cơm nắm càng chặt càng ngon. Đến tối ăn vẫn dẻo đó con.
Na nhìn thầy, lòng tự nhiên trào lên một niềm kính yêu và biết ơn vô hạn. Từ khi nhận biết được cuộc sống đến nay, đã bao lần Na thấy thầy dậy sớm, lụm cụm làm những nắm cơm như thế. Nắm cơm của thầy theo chị em Na đến trường vào những ngày học hai buổi hay sớm học  chiều  lao động. Nắm cơm của thầy theo chị em Na vào rừng chặt nứa hay cắt tranh. Nắm cơm của thầy theo chị em Na vào thung cày bừa, làm cỏ hay bẻ ngô, đào sắn. Nắm cơm theo thầy xuống ủy ban xã vào mùa tính công điểm cho xã viên hay những lần thầy họp ban quản trị hợp tác xã cả ngày bàn chuyện mùa vụ. Và cách đây ba năm, đùm cơm nắm của thầy cùng Na đi đến nhập học ở trường Cao đẳng sư phạm Nghệ Tĩnh. Khi đó, Na gắt thầy, bảo thầy làm thế chúng bạn cười cho, ai đời đi xuống thành phố mà cứ kè kè cái gói cơm như thế, xấu hổ chết. Thầy bảo xấu thầy chịu, đi đâu cũng phải lo cái ăn trước con ạ. Tiền mình không có nhiều, lỡ chưa có cơm tập đoàn thì sao. Thầy đèo Na bằng chiếc xe đạp thống nhất từ Quỳ Hợp xuống Nghĩa Đàn, cách nhà ba mươi cây số để bắt xe đi Vinh. Hai cha con xuống xe tại ngã tư ga, đạp xe sáu cây số mới đến trường. Đã quá trưa, chưa nhập được giấy tờ, hai cha con mở cơm nắm ngồi ăn dưới gốc phi lao. Bụi cát bay cuốn theo những cơn lốc xoáy, hất thẳng vào gói cơm, miếng cơm nhai lạo xạo những cát.
  Ba năm rồi, hôm nay thầy lại nắm cơm cho Na. Gói cơm nắm sẽ theo Na đi lên ngược vùng Quế Phong để bước vào cuộc đời dạy học, làm cô giáo ở  tuổi hai mươi. Bao nhiêu năm rồi, trán thầy  những nếp nhăn ngày càng sâu, má thầy càng ngày càng hóp lại, nhưng đùm cơm nắm cho con vẫn mịn màng, vẫn dẻo thơm, vẫn vuông vức như thế.
 Mẹ  cũng đã dậy. Bà với tay lấy chiếc lược dắt trên mái tranh, hỏi:
-         Xe chạy mấy giờ?
-         Thường xuất bến từ Vinh bảy giờ thì qua ngã ba săng lẻ cũng độ chín, mười giờ đó mẹ.
-         Thế mà thầy nó lùm cùm lạc cạc dậy từ ba giờ sáng.
-         Tính tôi hay lo, mà đã lo là không ngủ được, thôi thì dậy nấu cơm chuẩn bị  chu đáo cho con.
Cơm nước xong, thầy đã chằng buộc chắc chắn túi đồ vào một bên cái đèo hàng. Trước khi chị lai Na đi, thầy cứ nhắc đi nhắc lại:
-         Đi bên đường nha con,đi từ từ thôi, coi khéo xe chở gỗ nó chạy ẩu lắm đó.
  Con đường từ nhà  xuống ngã ba săng lẻ mười hai cây số thì gặp quốc lộ 48, đây là đường lâm nghiệp, xe chở gỗ ầm ì suốt ngày đêm. Con đường rải đá với dày đặc những ổ gà ổ vịt, ổ trâu ổ voi này Na đã quá quen thuộc suốt bảy năm học từ vỡ lòng đến hết cấp hai. Ba năm cấp ba rồi ba năm sư phạm, trở về con đường của tuổi ấu thơ  vẫn thế. Có khác chăng là những lồi lõm nhiều hơn, sâu hơn. Nắng thì bụi mù trời, mưa thì nước đọng từng vũng mấy ngày chưa khô hết. Ngồi sau lưng chị, Na lặng lẽ nhìn ngắm những cảnh vật vốn đã quá đỗi quen thuộc từ  ngày xưa. Chỗ khúc quanh này là những bụi mậm tẩm mà Na và các bạn thường chí chóe dành nhau  cây non, bóc vỏ ăn ngọt mát cả đầu lưỡi. Chỗ con dốc kia là những bụi lau xum xuê. Mùa lau chuẩn bị ra bông, Na cùng lũ bạn bóc những bông lau non chưa kịp trổ, nhai ngấu nghiến ngon lành. Quà của tuổi thơ đấy! Những món quà từ cây cỏ thiên nhiên ngọt mát tới bây giờ. Từng mùa quả mậm tẩm đỏ tươi qua đi, từng mùa lau trổ bông trắng xóa qua đi. Những vết sẹo do gai mậm tẩm cào, do lá cây lau cứa dần biến mất trên bắp tay, cổ tay con gái. Tuổi thơ Nacũng đã trôi về miền kỉ niệm. “Tạm biệt tất cả nhé, giờ mình đã thành cô giáo rồi đấy, cô giáo đang chuẩn bị cõng cái chữ về với bản làng xa xôi!” Na thầm thì với mọi vật, lòng bỗng thấy háo hức lạ thường.
  Lai Na đến ngã ba, chị vội trở về. Na chờ đúng hai tiếng đồng hồ, hết đứng lại ngồi, hết ngồi rồi dạo qua dạo lại nơi ngã ba lèo tèo vài quán bán nước chè, kẹo lạc . Mười giờ, chuyến xe duy nhất trong ngày chạy tuyến Vinh – Quế Phong mới xuất hiện.
  Yến đập sầm sầm nơi thành xe, báo xin  đón người. Na ì ạch xách túi đồ to tướng chạy theo. Một đám người nữa cũng tay xách nách mang chạy lúp xúp. Lơ xe, một tay xô những người đang cố sức bám cửa  leo lên, một tay xách chiếc túi của Na chuyển vào trong cho Yến rồi quát:
-         Bám mà leo lên đi, nhanh cho xe chạy.
 Na không tài nào tìm được cách bám vào cửa xe, vì chỗ lên xuống  đã đông đặc người. Na giơ tay, một bàn tay đàn ông nắm lấy, giật mạnh. Na gần như văng lên xe, đổ xô vào đám người chen chúc nơi cửa. Xe tăng tốc, bỏ lại gần chục người thất vọng quay về chờ chuyến ngày mai. Nếu không có Yến mua vé cho từ Vinh, Na cũng không có cái may mắn được đặt một bàn chân chỗ cửa lên xuống, tay bám vào thanh sắt phía trên, trong tư thế treo lơ lửng như con dơi suốt gần trăm cây số đường rừng để đến bến xe Quế Phong.
  Trong xe chật như nêm, nơi cửa xe cũng chỉ đủ chỗ cho mỗi người đặt được một bàn chân. Phía trên mui xe, hàng chục người bám vào dây buộc xe đạp, ngồi chồm hổm, lắc lư.  Chiếc xe năm mươi chỗ  chở khoảng một trăm sinh mạng con người nặng nề, ì ạch bò theo con đường 48, phả ra phía sau làn khói đen sì lẫn trong bụi đường cuộn lên từng cục.
   Nhưng đứng tim nhất là mỗi khi xe qua cầu. Những chiếc cầu gỗ bắc qua khe đã xộc xệch, gần như nát rữa.Người ta lấy dây chằng buộc, níu giữ bằng mọi cách để nó không sập xuống dưới cái lũng đen ngòm lởm chởm đá và nước. Xe nhích từng tí một, rón rén, cẩn thận, chính xác từng mi-li- mét như người làm xiếc đang đi trên dây. Hàng trăm con tim thon thót. Mọi người nín thở. Na nhắm mắt, khấn cầu trời đất phù hộ độ trì…Khi bánh sau của xe bám được vào mặt đường, ai nấy thở phào nhẹ nhõm!
 Xe đến bến vào lúc ba  giờ chiều. Chân tay Na tê dại, không thể bước đi được nữa. Na ngồi bệt xuống thảm cỏ nơi sân bến xe, mặc những đống phân trâu phân  bò lổm chổm quanh đó. Yến cũng đã lôi được hai cái túi du lịch ra. Đầu tóc xõa xượi, rối bù, nhưng cái giọng Diễn Châu của nó vẫn liến thoắng:
-         Từ ba giờ sáng anh Liêm đã dậy đạp xe từ Diễn Châu vào Vinh chồng giấy mua vé. May có thẻ thương binh nên mới mua được đấy. Mình đón ở ngã ba Diễn Châu chưa đông lắm.Xe đi một quãng lại dừng đón khách, chật như nêm cối! Đến ngã ba săng lẻ, mình cứ lo họ không dừng cho cậu lên nữa. Khiếp, mỗi lần xe lắc đảo, cứ như cả tấn thịt đè lên người. Cảm giác nếu là quả chuối chín, chắc mình đã bấy nhừ đi rồi ấy.
-         Còn mình đứng ngoài cửa, mỗi lần xe xóc nổi lên, cứ nghĩ  “người ơi ở lại xe đi nhé”, đi vài lần thế này về tuyển vào đoàn xiếc, hi hi...
-         Có mang cơm đi không? Đói rã ra rồi đây này – Yến giục.
 Khách trên bến đã tản đi hết,  chỉ còn lại chiếc xe ca xộc xệch hoen rỉ nằm mỏi mệt như gã cửu vạn sau một ngày làm việc quá sức.
 Nắng đầu thu đã nhạt hẳn, ngọn gió chiều phe phẩy mấy mái lều xơ xác.        

                                                                 (Còn nữa)




-          
-          

Thứ Sáu, ngày 08 tháng 5 năm 2015

LẠI HỎI BẠN BLOG!


Tôi là người hay viết về phụ nữ, mà đã viết là thường bênh vực cho giới mình. Tôi thương tôi, thương những người phụ nữ quanh tôi. Có thể nhận thấy điều đó qua những câu chuyện mà tôi đã đăng lên blog. Tập truyện ngắn đầu tay của tôi, GÓC KHUẤT,  tôi tuyển tập phần lớn là những truyện viết về đề tài phụ nữ với những mảnh đời bất hạnh của họ. Tôi lên tiếng bênh vực phụ nữ, bởi tôi thấy, dù ở thời đại nào, người phụ nữ cũng bị mất quyền bình đẳng trong xã hội về mọi phương diện, nhất là trong tình yêu và hôn nhân.
Trong blog HƯƠNG NGÀN, tôi đã đăng những bài tỏ rõ thái độ của mình trước sự bất công đó. Ví dụ bài thơ TÂM TƯ:
Em chẳng muốn làm  tiểu Kính Tâm đâu
Chỉ muốn làm một Thị Mầu  chân thực.
“Mọi xiềng xích phết màu sơn đạo đức”
Phá toang ra cho chữ DỤC uà vào!
Thị Kính dù hoá Phật  trên cao
Ngoảnh nhìn lại: đời biết bao ngang trái!
Thị Mầu ơi, quả chua thèm cứ hái,
Chỉ vì YÊU, mắc tội cũng cam lòng!
Bao đời rồi, Sở Khanh vẫn ung dung,
Sao Mầu chịu để làng phạt vạ?
Chuyện ngày xưa…sao bất công đến thế!
Hỏi bây giờ ai vẫn nghĩ như xưa?
                                
  (Xin lỗi anh Bulukhin Nguyễn nếu trong bài thơ có gì đó chưa đúng với Phật giáo)

Hoặc bài NGỌT NGÀO CHI CHUỐI MÙA ĐÔNG bàn luận về cái sự bỏ chồng ( xem ở đây)
Cách đây mấy hôm, tôi đăng LAN MAN CHIỀU BỆNH VIỆN, có tâm sự về chuyện "đi bước nữa". Bài đăng lên, tôi rất vui vì nhận được những chia sẻ của mọi người về vấn đề này. Ngoài những chia sẻ mang tính trêu đùa, bông phèng cho vui của Hòn sỏi, Salam, anh Hải Thăng,  có 2 người chia sẻ thể hiện sự đồng cảm, đó là 2 người phụ nữ: chị Song Thu và em Đan Thùy (có khi nào). Còn những chia sẻ nghiêm túc của các blogger đàn ông khác thì sao?
Đầu tiên là nhà thơ Quang Thứ chia sẻ lúc 14h35 ngày 4 tháng 5:
Vào thăm blog Hương ngàn
Lan man chẳng biết khuyên làm sao đây
Chọn ai trong cõi đời này
Hay là ở lại tháng ngày nuôi con?
Tự do tung tẩy sớm hôm
Khi vui viết sách, khi buồn thì yêu...
Theo trời, Trời có chiều theo
Cho người mát mái xuôi chèo sang sông?
(Trời ạ, tôi cũng chẳng hiểu nhà thơ bảo tôi "khi buồn thì yêu" có nghĩa là thế nào? Chắc khi buồn thì a lô cho chồng đứa bạn nào đó để...tòm tem một chút chăng?)

Anh Bulukhin Nguyễn "rón rén" hơn, nhưng tôi hiểu anh định nói gì trong chia sẻ lúc 11h 06 ngày 5 tháng 5:
" Vụ đi bước nữa thì Bu tui khó tư vấn được gì. Tìm cho được một nửa mình lưu lạc trong nhân gian mà ghép vào cho thành đôi thì khó lắm..."
Tối nay, 18h50 ngày 8/5,  mở trang HƯƠNG NGÀN, đọc thấy lời chia sẻ của anh Đỗ Đình Tuân lúc 8h21:
"Đừng đi bước nữa ai ơi
Ai đi những trẻ mồ côi buồn rầu
Nếu trời ép ai qua cầu
Thì ai nguây nguẩy lắc đầu không đi
Xem trời làm cái chi chi
Hay là cũng chỉ cười khì...chịu cô...?"
Tôi nhận thấy, đây là những lời rất chân thành, và cũng là lời phần đa tôi nghe được ở ngoài đời khi có cuộc thảo luận, góp ý về vấn đề này. Nhưng điều tôi băn khoăn là, tại sao cũng vấn đề đó, thái độ và hướng bàn bạc, khuyên nhủ của người đời đối với đàn ông thì lại khác! Hầu hết mọi người khuyên người chồng là hãy cố gắng kiếm một người phụ nữ để "khuya sớm có nhau" rồi "con chăm cha không bằng bà chăm ông" (chẳng thấy nói đến ông chăm bà đâu nhé), rồi thì "trông cảnh gà trống nuôi con như thế tội lắm"...(Bản thân tôi cũng rất đồng tình với những suy nghĩ đó.) Không chỉ thế, người ta còn tích cực tìm kiếm, giới thiệu, mai mối...để người đàn ông đơn lẻ ấy càng sớm có đôi càng tốt! Vậy, tôi muốn hỏi bà con ta rằng:
- Phải chăng người phụ nữ không thấy đơn côi, buồn tủi khi sống một mình?
- Phải chăng người phụ nữ không vất vả, không tội tình khi sống cảnh...gà mái nuôi con?
- Phải chăng người phụ nữ không cần một hành động săn sóc khi ốm đau, không cần một lời chia sẻ khi buồn bực, không cần một lời động viên khi chán nản, thất bại trong cuộc sống?
- Hay là, các anh tự thấy mình là một cái "gông" treo trên cổ người bạn đời của mình, giống chia sẻ của các chị em trường tôi trong bài viết LẤY AI ( xem ở đây), nên khuyên tôi như thế? Nếu là vậy, các anh hãy nới lỏng gông ra cho chị em chúng tôi... dễ thở nhé. He he...

Kiếp sau nếu trở lại đời
Thì cho tôi được làm người đàn ông! 
Còn bây giờ, đang ở kiếp này, tôi rất muốn đọc những suy nghĩ chân thực của mọi người về vấn đề này. Chúng ta có thể trao đổi thoải mái, được không ạ?
                                                    8/5/2015


Chủ Nhật, ngày 03 tháng 5 năm 2015

LAN MAN CHIỀU BỆNH VIỆN


Nghỉ lễ sáu ngày, ba ngày trực mẹ ở bệnh viện nội tiết Vinh. Thiên hạ chen chúc, xô đấy nhau ở bãi tắm Cửa Lò, tôi thơ thẩn đi ra đi vào trong phòng bệnh rộng thênh thang vì ngày lễ bệnh nhân cũng về gần hết. Mấy y tá thực tập được giao nhiệm vụ trực  ngồi dán mắt trước màn hình vi tính. Điện thoại  lại hết pin, tôi không thể gọi cho ai mà buôn chuyện. Thấy tôi buồn buồn, mẹ chợt hỏi:
-         Thế con có định đi bước nữa không?
-         Ý mẹ thế nào?
Mẹ thở dài: “ Sợ hai đứa nó khổ”
-         Sao lại khổ? Con còn sống thì con sẽ lo cho chúng nó chu đáo, con đủ sức lo, khổ gì?
-         Ừ thì đó là…
Mẹ bỏ lửng câu nói, lại thở dài. Tôi hiểu cái lấp lửng trong lời mẹ. Bà ngoại tôi mất khi mẹ tôi lên bốn. Sự cay nghiệt, tàn nhẫn nổi tiếng của “bà ngoại ghẻ” đến nay vẫn được mọi người nhắc lại mỗi khi tôi có dịp về quê chơi. Tôi đùa mẹ:
-         Số tử vi con gái mẹ đã ghi từ hồi mới sinh còn gì? Mẹ bảo số con hai lần đò, không tuân theo ông trời có chịu không?
Mẹ nằm im, không nói gì. Tôi lại ra đứng ở ngoài hành lang, nhìn trời chiều đang bắt đầu  dịu nắng. Và tôi cứ miên man suy nghĩ…
 Tôi nghĩ về số phận mỗi con người. Nghe người ta bảo, đường đời con người ta đã định sẵn từ trong bào thai mẹ. Từ sơ đồ định sẵn ấy mà ông trời quyết định cho đứa trẻ lọt lòng mẹ vào giờ nào, khắc nào, ngày nào, tháng nào…(tất nhiên là theo sinh nở tự nhiên chứ không phải theo kiểu chọn ngày giờ rồi rạch bụng hốt đứa trẻ ra).  Khi tôi mới  lấy chồng vài năm, thầy giáo cũ của tôi, một ông giáo chuyên nghiên cứu Kinh Dịch, bảo rằng: “Em nên bỏ chồng đi, hai tuổi này không hợp!” Tôi bực mình:
-          “Xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều”, Nguyễn Du nói thế, em sẽ chống lại Ông trời!
Và để chống lại định mệnh, tôi ì ạch kéo chiếc xe hôn nhân với một sự gắng gượng nhiều khi tưởng như  kiệt sức! Mỗi khi sợi dây kéo gần đứt, tôi lại tự nguyện vứt bỏ bớt những đồ đạc trên cỗ xe ấy. Thế nhưng Ông trời vẫn thắng! Sau bao mệt mỏi, rã rời của người kéo, cỗ xe đứt phanh, tuột dốc, lao xuống vực thẳm hư vô!
  Tôi lại nghĩ về những đam mê .Trong cuộc sống, tôi không có nhiều đam mê, nhưng trong số ít ỏi đam mê của tôi, lại là đam mê viết. Tôi đến với văn chương, tôi viết văn, không phải vì để trở thành nhà văn, mà chỉ là thích thế thôi. Hỏi tôi vì sao thích thì cũng khó trả lời như hỏi vì sao tôi lại yêu một người nào đó.
 Thời gian chật vật vì tôi còn phải lo bao nhiêu chuyện của cơm áo gạo tiền, nhưng hễ rảnh là tôi thả mình sống với thế giới nhân vật của tôi. Những nhân vật được tôi lắp ghép từ nhiều mảnh đời trong cuộc sống. Những nhân vật giúp tôi chuyển đến  bạn đọc một bức thông điệp nào đó. Xin nói thật là tôi chẳng theo một nguyên mẫu cụ thể nào ngoài đời cả. Tất cả là sự nhào nặn từ bao khuôn mặt, bao cuộc đời, bao số phận, bao tâm tư, bao suy nghĩ….mà tôi bắt gặp, tôi trải nghiệm. Sự lắp ghép có khi khéo léo, nhưng cũng có khi còn vụng về. Viết xong  đăng lên HƯƠNG NGÀN, nhận được nhiều lời khen, chê, góp ý rất chân thành của bà con làng blogspot ta. Đó là điều may mắn nhất của tôi và những ai đang tập tọng viết như tôi.
  Tôi nghĩ về những ngày sắp tới…
 Trong ý định, tôi sẽ viết một tiểu thuyết về chủ đề giáo dục ở miền núi, cốt truyện đã được đăng trong tám bài viết hồi tháng 8 và tháng 9 năm 2014. Khác với truyện ngắn, tiểu thuyết này gần như là tự truyện, tôi viết về tôi, về bạn bè tôi, về những bản làng mà tôi đã đi qua, đã sống để công tác trong những năm đầu tiên bước vào đời. Lúc đầu tôi định để khi nào thật rảnh rỗi mới viết, khi đã về hưu chẳng hạn.  Nhà văn Thái Tâm viết tiểu thuyết lịch sử dày hơn 400 trang: TIẾNG THÉT TỒNG LÔI. Tôi hỏi nhà văn viết trong bao lâu? Thái Tâm bảo: Tròn một năm. Năm 2009, không làm bất cứ việc gì, không dùng điện thoại để khỏi ai gọi, đóng cửa phòng ngồi viết, đọc, sửa.
Giờ tôi còn phải làm việc nhà, phải chợ búa cơm nước, phải kèm con học, phải dạy chính khóa, dạy thêm, phải làm trăm thứ khác nữa. Vậy chắc tôi  mất đến…năm năm? Mười năm? Hay lâu hơn? Thế nên phải bắt đầu càng sớm càng tốt. Viết ra để bạn blog đọc là chính, còn in thành sách thì chưa nghĩ tới.
Còn về chuyện hôn nhân, Ông trời bảo tôi lấy ai thì tôi sẽ lấy người đó.Nhưng tôi sẽ thắp hương khấn lạy Ông trời, đừng bắt tôi lấy người ghét bỏ văn chương!
  Nghĩ lan man thế mà hoàng hôn xuống lúc nào không biết. Mẹ gọi:
- Vào đem cặp lồng mua cơm đi con!
                                                Ghi lại vào 3/5/2015

  

Thứ Sáu, ngày 01 tháng 5 năm 2015

LỜI TƯỢNG ĐÁ

Khi xưa tôi chỉ là hòn đá
Xù xì
Góc cạnh                                                               
Vô tri
Vô giác
Mọi người vô tư dẫm đạp!
 Thế rồi
Qua tay người thợ
Mài dũa
Chạm khắc
Vô cùng tinh vi
Vô cùng nghệ thuật
Tôi
Trở thành Đức Phật!
Mọi người quì rạp
Thắp hương
Vái lạy
Nguyện cầu
Mong tôi gia hộ mọi điều
Cho tất cả chúng sinh! 

                       1/5/2015

Thứ Tư, ngày 22 tháng 4 năm 2015

XỨ NGHỆ

Tôi hoàn toàn không có ý định bình hay cảm nhận bài thơ NGHỆ NGỮ của mình, bởi nó đơn giản chỉ là sự ghép vần để nói về tiếng Nghệ. Nhưng đăng bài lên, nhiều bà con ta kêu…nỏ hiểu. Vậy, xin được giải thích mấy lời thế này:
  Từ đầu đến cuối là lời của cô gái nói với người mình yêu dấu. Đây là lần đầu tiên cô mạnh dạn “Mời ênh về xứ Nghệ quê em.” Người xứ Nghệ tuy nghèo nhưng hiếu khách. Bữa cơm đầu tiên anh ăn với gia đình em có món cực kì quen thuộc với người xứ Nghệ: nhút! Nhút là từ địa phương không có từ toàn dân tương ứng vì nhút chỉ sinh ra ở xứ Nghệ. Nhút là món ăn được muối từ nguyên liệu chính là xơ mít. Nhút muốn để được lâu, ăn quanh năm thì phải thật mặn. Một chàng rể lần đầu tiên về ra mắt phụ huynh, trong mâm cơm có một đĩa thức ăn vàng ươm, được xắt thành từng miếng rất khéo. Chàng rể nhìn, thèm lắm nhưng chưa dám gắp vì phụ huynh chưa đụng đũa. Ăn xong một bát cơm với canh tập tàng ( canh có nhiều loại rau nấu lẫn với nhau như: rau dền, rau sam, rau khoai…, tiếng Nghệ còn gọi là canh rau vặt), anh rón rén gắp một miếng bỏ vào bát cho bố vợ tương lai: “Mới bác xơi trứng ạ!” Ông bố nhìn anh, hóm hỉnh: “ Ô, cháu cứ tự nhiên, món trứng này bác ăn suốt!” Rồi ông gắp cho con rể tương lai 2 miếng liền. Chỉ chờ có thế, chàng ta sung sướng cảm ơn và cắn một miếng. Mặn thôi rồi! Nhút đấy! Nhút vắt kiệt nước, dùng 2 cái đĩa ép chặt, mịn và vàng ươm như trứng rán!
   Hôm nay anh về, may mắn có con cá tràu( cá quả) cha em đi làm đồng bắt được, không mua bán gì đâu. Thế là mâm cơm ít ra có 2 món: cá tràu kho và canh dấm nhút nấu đầu cá. Đĩa cá tràu từng khúc đỏ au, thịt chắc nịch chứ không nhão nhoét như cá tràu nuôi, có vị ngọt của mật, vị đậm đà của nước mắm quê,vị béo ngậy của cá đồng, và mùi hành tăm thơm lừng. Tô canh cũng thơm phức, chua chua, ngọt ngọt, đậm đà như tình người xứ Nghệ! Cá ấy, canh ấy mà ăn với cơm gạo quê thơm, dẻo và trắng muốt như trấp vả con gấy ( cơm trắng như đùi con gái, đây là cách nói của dân quê tôi) thì còn gì ngon bằng!
  Trưa hè miền Trung nắng và nóng lắm. Ngồi trong nhà, càng quạt càng nóng. Bàn ghế, giường chiếu sờ vào đều nóng dẫy. Đi ra ngoài, cảm giác như chảo lửa hắt thẳng vào người. Thương anh lắm, nhưng nhà không có phòng kín, không lắp điều hòa đâu anh. Em dắt anh đến một nơi mát rượi: rừng cây! Dù không có cảnh như ở Côn Sơn trong thơ Nguyễn Trãi: “Trong ghềnh thông mọc như nêm” hay “Trong rừng có trúc bóng râm” để “ta lên ta nằm”, “ta ngâm thơ nhàn” nhưng thảm cỏ xanh, cây rừng rợp bóng cũng đủ để anh thưởng thức hơi mát của cái máy  điều hòa khổng lồ quê em. Không ngâm thơ, nhưng cảnh  trước mắt là một bài thơ đấy! Bài thơ của một cuộc sống yên bình có đàn bò nhởn nhơ gặm cỏ “Béo mượt lông ngong rành ưng ênh ơi”. Ở xứ Nghệ, một số nơi thuộc huyện Đô Lương, Anh Sơn, Tân Kì, Quì Châu,Quì Hợp, Nghĩa Đàn, Quế Phong…vẫn duy trì tập quán nuôi trâu bò chăn thả hàng đàn trong rừng cả năm như thế. Chúng cứ sinh con đẻ cháu, quây với nhau thành gia đình, tự do và thảnh thơi, không lo ai bắt trộm cả.
   Chiều dịu nắng, anh đi với em ra ruộng rau muống nhé. Mùa hè, bữa cơm có đĩa rau muống luộc, bát nước rau muống vắt chanh, ăn với cà muối xứ Nghệ “càng mặn lại càng giòn” thì tuyệt! Nhưng phải là rau muống mới hái dưới ruộng, dưới ao lên thì vị ngọt của nó mới làm nên nỗi nhớ “Anh đi anh nhớ quê nhà/Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương”. Rau muống trồng ở ao, hồ hay ruộng trũng. “Có gan ăn muống, có gan lội hồ”. Không có gan thì đừng lội xuống. Đỉa nhiều lắm đấy! Lũ đỉa chỉ cần thấy động, nghe hơi người là từng đàn lao tới như máy bay phản lực! Mới nhìn thấy lũ đỉa đen đen vàng vàng uốn mình là làm ta sởn hết gai ốc rồi! Thế nên để em chiến đấu với bọn chúng. Anh – dân cày đường nhựa – cứ đứng trên bờ. Anh mà lội xuống, đỉa bám chặt vào chân, anh  hái rau, đỉa bám chặt vào tay, lớ ngớ như anh không gỡ ra được đâu, “bám dai như đỉa”  mà. Nhưng em dám chắc rằng, mới nhìn thấy chúng lượn tới, anh đã hoảng hồn nhảy choi choi giữa ruộng, dẫm nát cả rau, bùn văng tung tóe vào áo, vào mặt đấy, chàng công tử bột ạ. Còn em thì quen rồi, con nhà nông chính hãng, cả con trâu to đùng em chẳng sợ, còn điều khiển để cày bừa được, con đỉa bé tí thế nhằm nhò gì!Phụ nữ xứ Nghệ đi cày là chuyên thường.
    Cơm tối xong, trời đã mắt mẻ hẳn. Gió rì rào kể chuyện trên ngọn cau, gió nô giỡn ngoài nương ngô. Trăng sáng như ban ngày. Em dẫn anh đi chơi nhà hàng xóm nhé. Dân quê em ấy mà, khách một nhà, cả làng cùng vui. Một nhà có con cháu đi xa lâu ngày trở về, cả làng đến tíu tít hỏi thăm. Huống hồ anh là chàng rể tương lai. Ai cũng muốn xem mặt, ai cũng muốn hỏi chuyện, ai cũng muốn trêu vài câu. Dân xứ Nghệ quê em hay nói trạng, tức là nói khôi hài, nói đùa cho vui. Đùa mà cười. Cười sảng khoái, cười vang nhà. Cười cho tan đi mọi mệt nhọc vất vả của một ngày lao động.Câu đùa đôi khi hơi bậy bạ một chút, anh đừng ngượng, không sao đâu. Bản chất người dân lao động quê em vốn thật thà, chất phác và quí người, họ trêu cho vui chứ không hề ác ý. Anh sợ xấu hổ, không sang chơi hàng xóm là bị trách đấy. Mà đã đến nhà này thì không thể không đến nhà kia. Thế mới là tình làng nghĩa xóm anh nà.
   Vâng, thế là anh đã ở trọn mọt ngày nơi quê em, anh đã hiểu khá nhiều về con người và vùng đất “gió Lào thổi rạc bờ tre” này rồi đấy. Em, người con gái sinh ra và lớn lên trên vùng đất này không có được cái mướt mát tươi xinh như con gái nhiều vùng quê khác . Em cũng không có được sự dịu dàng, mềm mại, ngọt ngào trong lời nói đâu anh:
“Tiếng khu Ba vừa nhẹ vừa thanh
Nghe chồng gọi, “Dạ, thưa anh gọi gì?”
Tiếng khu Bốn thì nặng như chì
Nghe chồng gọi, bảo: “Chi chi rứa hề!”
Nhưng nếu anh không chê em gầy, em đen, không “chê quê em nghèo đói”, không “chê em vụng về câu nói” thì em xin được về làm dâu quê anh. Là con gái xứ Nghệ, em sẽ ăn ở có trước có sau, nghĩa tình bền chặt như gừng cay muối mặn.
“ Thân em như củ ấu gai
Ruột trong thì trắng, vỏ ngoài thì đen
Ai ơi nếm thử mà xem
Nếm xong mới biết rằng em ngọt bùi!”
 Anh biết không, người xứ Nghệ sinh ra và lớn lên nơi miền quê đói nghèo lam lũ nên tảo tần, chịu khó, chịu khổ đã quen. Dù ở nơi nào, người xứ Nghệ cũng vươn lên mà sống, như cây xương rồng trụi trần góc cạnh mà sức sống bên trong bền bỉ, kiên cường.
  Đấy, bài thơ là lời của cô gái xứ Nghệ chưa đi xa đâu nhiều nên còn đặc giọng quê nhà. Tôi xin diễn giải cụ thể như thế để bà con ta dễ hiểu.

                                   Xứ Nghệ, bắt đầu mùa nắng nóng
                                             
                                                  Nhật Thành