Chân thành cám ơn các bạn đã đến với blogger: HƯƠNG NGÀN - Của Hồ Nhật Thành!

Thứ Hai, ngày 16 tháng 2 năm 2015

BÁN GÌ?


Cuối năm chợ sớm, chợ trưa
Trăm người bán, vạn người mua - rộn làng!
Người thúng nếp, kẻ lá dong
Thịt bò, thịt lợn...xếp hàng từ xa.
Bên này mấy dãy lồng gà
Mào khoe lốc nhốc như là hoa tươi.
Bên kia rau, củ chào mời
Su hào, cải bắp, khoai tây, tỏi, hành...
Phía ngoài: chuối, táo, cam, chanh...
Phía trong: hương, nến, tiền, vàng, trầu, cau...
Dạo cửa trước tới cửa sau
Hỏi: "Không mua bán,  đi đâu nãy giờ?"
Rằng: " Nay còn chút duyên thừa
Cuối năm ai có tiền mua không nào?"

                                    28 tháng chạp năm Giáp Ngọ.

Thứ Hai, ngày 09 tháng 2 năm 2015

ẨM ƯƠNG.



Mùa xuân với cành đào: nở hoa
và những chồi non phô màu biếc.
Mùa xuân với đời tôi: đơn chiếc
gánh thời gian trĩu nặng những ưu phiền!



Cây đào nơi góc vườn đã nở hoa mùa đầu!




Vin một nụ trên cành
Ủ kín vào thương nhớ...



Thứ Ba, ngày 03 tháng 2 năm 2015

BÁO HIẾU MẸ.



                            Mẹ già như chuối chín cây…(ca dao)

-         Chà, cô giáo  nuôi được lắm gà hề ?
Đang cho gà ăn,tôi giật mình, ngẩng lên, bắt gặp đôi mắt lấp lánh của cụ.
-         Dạ, con chào cụ. Cụ mới ở quê lên chơi ạ?
-         Vâng, tui vừa  lên sáng ni. Chà chà! Tháng chạp mà nóng nực quá!
-         Dạ, tháng chạp nằm trần bức đổ mồ hôi mà cụ.
Cụ  cười:
-         Có ai cãi được ông trời mô cô hề. Vừa lạnh đó, ông bảo nắng nóng là nắng nóng liền được.
Tôi lại trêu cụ:
-         Không phải do ông trời, mà do cô gái xinh đẹp trên ti vi kia kìa cụ ơi, cô ấy bảo nóng là nóng, bảo rét là rét cụ ạ.
-         Đúng thế  – Cụ gật gật đầu – bọn trẻ bây dừ rành tài ! Lại còn đoán được thời tiết trước cả mấy ngày nữa mới khiếp!  
Nói rồi cụ chìa ra một túi bóng:
-         Lâu ngày lên chơi, quà quê nỏ có chi, có mấy quả hồng xiêm. Cô ủ  cho cháu ăn dần. Hồng xiêm vườn nhà , không lo phun thuốc phun thiếc chi mô cô ạ.
-         Dạ, con cảm ơn cụ. À, có mấy quả cau thắp hương hôm rằm con đang để dành cho cụ đây. Chả là hôm trước nghe  bác bên nhà bảo chuẩn bị đón cụ lên tổ chức sinh nhật lần thứ  tám mươi. -  Tôi chạy vào, lấy mấy quả cau đưa cho cụ. Cụ chép miệng:
-         Ừ, bọn nó cứ bày vẽ ra  cho tốn kém. Từ khi cha sinh mẹ đẻ đến dừ, tui nỏ biết sinh nhật sinh nhiếc chi, mà cũng có biết ngày sinh tháng đẻ mô. Vợ chồng hấn cho xe về đón, bảo mẹ phải lên để chúng con được  báo hiếu… Thôi thì nguyện vọng nó thế, làm mẹ chỉ mong con được vui.
   Con trai cụ, bác Bảy “loe”- mọi người gọi thế vì cái miệng rộng quá cỡ của bác- là hàng xóm của tôi. Người ta bảo đàn ông rộng miệng thì tài. Mà đúng thật, bác tài ăn nói, tài ngoại giao, tài đoán việc như thần. Ở huyện này, người ta bảo Bảy “loe” ho ra bạc, khạc ra tiền. Cũng phải thôi, với chức trưởng phòng tài chính ở một huyện miền núi giàu tài nguyên khoáng sản, các dự án thì cứ tươm tướp như mướp ba mươi , tiền không  ào vào nhà trưởng phòng tài chính như nước lũ mới là lạ! Cụ gọi bác Bảy  là thằng Cu Anh. Cụ khoe Cu Anh ngày xưa  học giỏi nhất làng đấy, nó là người đầu tiên của làng thi đậu đại học đấy. Vợ chồng cụ về ở với nhau tận mười hai năm mới có thằng Cu Anh, nhưng khi  Cu Anh  một tuổi rưỡi, còn Cu Em đang trong bụng mẹ, thì ông trời đã gọi cha nó về, cụ ở vậy  nuôi hai anh em nó. Thằng Cu Em học trì trà trì trật hai năm một lớp rồi cuối cùng nghỉ dở lớp năm. Nó bảo anh học giỏi thì ưu tiên cho anh, nó ở nhà đỡ đần thêm cho mẹ. Mỗi lần  lên thăm“ nhà thằng Cu Anh”, cụ lại sang  tôi chơi, lại kể chuyện thời xửa thời xưa khổ thế nào, lạc hậu thế nào, một nách hai con nhỏ  vất vả thế nào... Rồi cụ rơm rớm nước mắt thương gia đình thằng Cu Em. Nó ít chữ nghĩa nhưng hiểu thảo, chăm lo cho mẹ từng li từng tí. Vậy mà vợ chồng  xung tuổi nhau, siêng năng cần cù mà vẫn cứ nghèo, cứ khổ. Con của  thằng Cu Em ra đời bươn chải kiếm tiền khi mười sáu tuổi, không  được như hai đứa nhà thằng Cu Anh,  hai mấy tuổi rồi vẫn du học bên Úc.
Tôi an ủi cụ:
-          Bàn tay có ngón ngắn ngón dài, phải không cụ? Bác Bảy nhà ta thì sự nghiệp lại như diều gặp gió đấy thôi. Anh em như chân với tay, chú khó khăn thì có bác đỡ đần, cụ lo gì.
Cụ dùng ngón  trỏ và ngón cái vuốt hai bên mép cho sạch nước trầu, “ừ thì bàn tay có ngón dài ngón ngắn…” Cụ thở dài. Nghe mùi trầu nồng nồng, thơm thơm phả ra từ miệng cụ, tự nhiên tôi nghĩ, chắc sau này mình cũng sẽ tập ăn trầu.
-         Cụ lần này lên ở ăn tết luôn chứ?
-         Không, tui phải về. Tết nhất với tui dừ quan trọng  là ở cái bàn thờ tổ tiên. Nỏ biết răng, cứ nghe mùi hương  là tui như thấy ông bà cha mẹ và cha hai đứa đang  mô  đó thật gần. Gần tưởng như mình nói thì thầm, hoặc mới nghĩ thôi  là họ đã nghe  thấy, cảm nhận thấy  rồi  cô nà. Vả lại, nghe bảo vài bữa nữa có rét đậm. Tôi cứ là phải có bếp lửa. Ở đây củi đuốc không có, mà có cũng nỏ biết nhen ở mô.
Cô bé giúp việc ló mặt lên khỏi bờ tường, nheo nheo mắt,  khoát khoát tay ra hiệu. Cụ vội chào về. Bóng cụ đổ dài giữa con đường nhạt nắng. Nhìn theo bóng dáng thoăn thoắt của cụ, tôi thấy lòng mình ấm áp, vui vui.


  Hơn mười giờ sáng. Tôi mặc bộ váy mới, xoay qua xoay lại trước gương ngắm nghía. Cũng tàm tạm.  Thở dài dán chiếc phong bì thứ mười trong tháng. Bảy đám cưới, hai đám mừng nhà mới, và giờ là đám mừng sinh nhật! Mất đứt hai triệu tiền lương!  Trên bàn còn hai thiệp hồng chưa đến ngày. Cứ bảo mỗi gia đình chỉ có hai con, sao mà đám cưới nhiều đến vậy. Nhiều hơn ngày xưa, khi mỗi gia đình có đến bảy tám con! Ngày xưa làm gì có cảnh chạy sô đám cưới thế này?  Tiền  cạn, tết  sầm sập sau lưng. Giá như cứ hai ba năm mới tết một lần thì có phải đỡ khổ hơn không!
   Lễ mừng sinh nhật cụ được tổ chức tại một nhà hàng sang trọng. Khi tôi đến, đã thấy cụ ngồi thật “oai” chỗ dành cho cô dâu chú rể  mỗi khi nhà hàng tổ chức đám cưới. Quần áo đỏ, khăn xếp đỏ, đôi hài đỏ, trông cụ thật quí phái, thật đài các, khác hẳn hình ảnh cụ khi sang nhà tôi. Tôi chợt mỉm cười, hình ảnh bà tiên trong truyện cổ tích tôi đọc ngày xưa chắc cũng chỉ đẹp như thế!
Khách đến nườm nượp. Ô tô, xe máy xếp hàng dãy dài. Quả tim đỏ khổng lồ nuốt vào trong bụng nó bao nhiêu là phong bì. Nếu những chiếc phong bì biết nói, chắc trong bụng quả tim sẽ  vang lên đủ thứ giọng: giọng giao kèo, giọng nịnh bợ, giọng biết ơn, giọng nhờ vả và có cả những giọng dấm dẳng, bực bội... Nhưng chúng không biết nói. Chúng chỉ im lặng mà nghe những chủ nhân của chúng  hết lời khen  sếp thật hiếu nghĩa, khen vợ sếp vừa xinh đẹp, giỏi giang lại xứng đáng là dâu hiền. Vợ chồng bác Bảy đứng cạnh cụ cùng đáp lễ, mặt tươi rói chẳng khác nào cô dâu chú rể trong ngày cưới!Chao ôi, con như thế, dâu như thế, mẹ không mát lòng mát dạ sao được? Tôi ấn chiếc phong bì vào miệng tim, nháy mắt chào cụ.
“ Mẹ cứ phải cười luôn miệng, rồi chìa tay ra bắt, rồi cảm ơn,  rồi “vâng ạ”,  con dâu  dặn thế, “ phải làm đúng như thế, đừng lộ cái giọng người nhà quê ra mà họ cười bọn con.”  Ừ thì ngày xưa đồng sâu ruộng cạn, lội bùn lội nước bắt cua bắt cáy nuôi con ăn học mẹ  còn làm được, giờ chỉ chịu khó đóng bộ,  cười luôn miệng, hân hoan phấn khởi trong lễ sinh nhật  của mình cho con đẹp mặt với bạn bè anh em, việc đó chẳng lẽ  mẹ lại không làm được?
  Khách khứa đã kín hết một trăm hai mươi mâm. Nhạc rập rình. Hát như đuổi bắt cướp. Tiếng chạm li. Tiếng cười nói. Tiếng chúc tụng. Nỗi lo trăm bề của  những ngày cuối năm tạm che dấu trong những khuôn mặt tươi cười hoan hỉ.

  Khá khuya, cô bé giúp việc loẹt quẹt đôi dép lê vào nhà.
-         Cháu thấy nhà còn sáng đèn, có nghĩa là cô còn thức.
-          Ừ, cô vẫn thường ngủ muộn mà. Hôm nay chắc mệt lắm phải không?
-         Cháu làm gì đâu mà mệt? Nhưng cụ thì lư tử cô ạ.
Tôi lo lắng:
-         Sao? Cụ mệt lắm à?
-         Cô  tính xem, một trăm hai mươi mâm. Hơn bảy trăm khách. Hơn bảy trăm lần bắt tay, hơn bảy trăm lần “cảm ơn” hơn bảy trăm lần “vâng ạ”. Rồi tiếng ầm ào cười nói, nhạc nhẽo, hát hỏng … trẻ còn bã người ra, huống gì cụ đã tám mươi!  Khi khách đã yên vị, cô chú  cho người đưa cụ về trước, bảo cháu lấy các thứ cho cụ ăn, nhưng cụ bảo mệt lắm, không ăn được. Hơn nữa, đồ xào, đồ nấu ở nhà hàng không hợp với cụ. Cụ bảo cháu nấu cho  bát cháo hoa, loãng thôi. Húp được mấy thìa là cụ nằm mê mệt.
-         Thế giờ cụ vẫn chưa dậy được?
-         Không, cụ dậy chứ. Cụ bảo phải dậy, nằm thế con nó lo lắng, tội, nó cũng đã bận bịu khách khứa cả ngày rồi. Cụ bảo mai về quê.
-         Sao vội về nhanh thế? Cũng đang gần nửa tháng nữa mới đến tết mà?
-         Cô không biết đấy thôi, tối nay  cụ buồn lắm, cụ còn khóc với cháu đấy. Cụ bảo, chỉ vì đôi lợn của thằng Cu Em mà nên cơ sự này.
-         Cơ sự gì? Mày nói chẳng đầu chẳng cuối gì thế ai mà hiểu được?
Cô bé giúp việc cười hích hích, bảo cô đừng mách với ai nhé, rồi rủ rỉ  kể…
-         Cụ có ý xin một triệu cho thằng Cu Em. Cụ bảo vợ chồng nó năm nay chăn nuôi không thuận, lợn gà dịch hết. Tháng trước nợ đôi lợn giống giờ gần tết vẫn chưa có trả, con mẹ hàng lợn hỏi hai lần rồi, nó bảo không trả thì mồng một tết nó đòi tiếp. Cô Thùy Chi bảo cho cũng được, nhưng lại nói: “ Thù lao tiếp khách một buổi của mẹ hơi bị cao đấy.” Chú Bảy bảo, cô ăn với  nói thế à? Cô Thùy Chi vênh mặt lên,em nói thế không đúng sao? Thế anh nghĩ người ta mừng cho mẹ chắc? Hay bảo chú tổ chức sinh nhật cho mẹ ở quê đi mà thu tiền! Chú Bảy giang tay tát đánh bốp vào má  cô Thùy Chi. Cụ chắp tay, mẹ xin các con, mẹ lạy các con. Các con làm thế mẹ đau lòng lắm. Thôi, mẹ không xin nữa. Các con cũng cho mẹ nhiều rồi. Chú Bảy mặt đỏ phừng phừng, mẹ để con dạy cô ta, cái loại chỉ coi đồng tiền là trên hết. Cô Thùy Chi lu loa khóc, ai trên đời này sống mà không vì tiền! Anh không vì tiền chắc? Mẹ anh không vì tiền chắc? Hay là anh  và  mẹ ôm hết số tiền mừng về quê đi. Về mà bù trì cho đứa em nghèo kiết xác của anh đi. Chú nắm chặt tay lại,  nhưng rồi  đùng đùng vơ chiếc áo khoác, ra lấy xe nổ máy đi. Cô Thùy Chi thôi khóc, thôi nói, vào buồng đá xủng xoảng mấy lon bia rồi tắt điện. Cụ ngồi rũ ra trên giường. Cụ bảo ngày mai cụ về. Ở đây thêm ngày nào thì vợ chồng nó căng thẳng ngày đó.  Cháu đừng kể chuyện ni ra ngoài, xấu con xấu cháu thì cụ đau lòng lắm…
Cô bé đứng dậy:
-         Thôi, cháu về nha cô. Về xem cụ đã ngủ được chưa.
Tôi ra khóa cổng. Trăng mười tám chơi vơi giữa trời. Ánh trăng thật lạnh. Ánh điện đường cũng lạnh. Hình như đợt rét cuối năm đã về trong xào xạc vườn cây. Tôi lặng người trong đêm. Thấp thoáng trong tâm tưởng  hình ảnh  một bếp lửa  bập bùng. Bên bếp lửa, bà cụ ngồi bỏm bẻm nhai trầu, giọng đều đều kể cho các cháu nghe chuyện ngày xưa…

                         Cuối năm Giáp Ngọ
                                       NT

Chủ Nhật, ngày 25 tháng 1 năm 2015

CHÚT TÔI



Chỉ là một đóa khoai lang
Chẳng mong người nhớ, chẳng màng người thương.
Hết dãi nắng lại dầm sương
Một ngày héo quắt giữa vườn, thế thôi!

25/1/2015

Thứ Hai, ngày 19 tháng 1 năm 2015

TRỜI MƯA BONG BÓNG PHẬP PHỒNG (tiếp theo và hết)

Ngày đầu tiên ở bệnh viện, cô Hương luôn ngồi bên cạnh nó, động viên nó ăn, vắt nước cam cho nó uống. Ngày thứ hai,  cô để nó ở lại một mình, đến bữa  mang cháo vào, giục nó ăn nhanh cho khỏe về còn lo việc quán xá. Tối ấy, đưa cho nó bốn mươi lăm ngàn, cô dặn: “ Sáng ăn năm ngàn bánh mướt hoặc xôi;  trưa, tối đến nhà ăn bệnh viện mà mua cơm, hai mươi ngàn một suất, nhớ chưa? Mày cũng phải chịu khó đi, quán bỏ bễ vài hôm là mất khách ngay.” Cô quày quả ra về, cái bóng quần quật quấn theo từng bước chân vội vã của cô  dọc hành lang bệnh viện.
   Đêm ồn ào hỗn độn mọi thứ âm thanh. Tiếng rên rỉ đau đớn. Tiếng nói chuyện rì rầm. Tiếng bước chân chạy rầm rập theo sau chiếc cáng. Tiếng rao khoan thai, nhỏ nhẹ của bà bán đồ ăn đêm: “Ai khoai nướng nào!” Tiếng khóc nghẹn ứ của người đàn bà tiễn biệt một hài nhi xấu số.  Tiếng   cười sảng khoái của người đàn ông đang gọi điện: “ Mẹ tròn con vuông rồi nhé, con trai, nặng ba kí rưỡi.”…
   Nó bật dậy, đi ra . Loáng cái, nó đã ở ngoài cổng bệnh viện. Đi đâu? Nó ngần ngừ một lát rồi co cẳng  chạy. Gió thốc vào mặt lành lạnh . Mặc! Nó cứ cúi cổ chạy. Chẳng biết phía trước là đâu. Cả miệng, cả mũi và cả tai đều thở. Nó chao đảo, suýt ngã . Không chạy nữa, nó rảo bước. Mắt hoa lên, chân run rẩy. Nó gượng thêm mấy bước rồi ngồi bệt xuống bên đường. Một ánh đèn xe máy  như mũi khoan xoáy vào mặt nó. Nó lấy tay che, nhắm mắt lại. Không đươc! Nó phải đi. Đi càng xa càng tốt! Nó lại đứng lên, bước. Đêm không trăng, không sao, chỉ có gió lùa hun hút. Tự nhiên, nó chẳng còn sợ bóng đêm nữa. Bóng đêm từng làm nó ớn lạnh khi nghĩ có con ma đang nấp đâu đó sẽ nhào ra, giờ cho nó cảm giác an tâm hơn. Bóng đêm đang che chở cho nó. Bởi trong bóng đêm thường ít gặp người.  Con người mới đáng sợ! Con người mới đủ sức làm hại nó. Ma chưa bao giờ gây đau khổ cho ai, con người mới hay gây đau khổ cho nhau. Ma chỉ tn tại trong ảo giác, còn con người thì có thật. Con người hiện hữu với trăm mưu ngàn kế hãm hại nhau. Nếu nó không trốn đi, ngày mai hay ngày kia, lại trở về quán cô Hương, cuộc sống nó sẽ thế nào? Nó rùng mình nhớ đến sự vật vã suốt đêm của cô Hương. Nó nổi gai ốc khi nghĩ đến khuôn mặt dữ tợn và tiếng thét đinh tai nhức óc của bà Nhung trong từng động tác lắc giật khi nó ngập dưới hố phân. Tự nhiên, tiếng thét ấy lại vang lên nghe u u như tiếng còi tàu. Tiếng u u mỗi lúc một lớn dần, dài ra. Nó lấy hai tay ôm lấy tai. Vẫn nghe. Đất xoay nghiêng. Trời  chao xuống. Màn đêm đen kịt chụp lấy nó. Nó không còn cảm nhận được gì nữa! 
   Nó cố mở mắt, lờ mờ nhận ra một người đàn ông đang cúi xuống thật gần. Một bàn tay thô ráp đặt lên trán nó. Ánh sáng từ một bóng đèn nhỏ loang ra trước mắt, chập chờn hư ảo.
 “Đây là đâu? Thiên đường hay địa ngục? Nó đã thoát khỏi kiếp người? Nó đã về với bà?” Bóng người đàn ông loáng thoáng mất đi rồi lại hiện ra, nhàn nhạt mơ hồ như ảo ảnh. Nhưng mùi cháo hành thơm phức thì thật rõ. Mùi cháo hành đánh thức kí ức xa xăm, mỗi lần nó bị cảm, một tay bà bưng bát cháo bốc hơi nghi ngút, một tay cầm thìa ghé sát miệng nó mà giục: “ Ngoan nào, ăn xong bát cháo, đắp chăn lại, mồ hôi vã ra là cái thằng cúm nó tự cuốn xéo thôi.” Rồi bà cười thật hiền, thật hiền... Thìa cháo đã ghé đến, nó ngoan ngoãn há miệng ra, ngoan ngoãn nuốt. Một thìa..hai thìa... bụng nó ấm dần lên. Đút xong  thìa cháo cuối cùng, người đàn ông đứng dậy. Nó gần như đã nhìn rõ mọi vật: một cái tủ nhỏ, một cái quạt treo tường, một bếp ga đặt trên chiếc bàn cũ kĩ, trong cái chậu chỏng chơ mấy chiếc bát tô, chiếc đĩa chưa rửa...
                          *     *
                             *

  Nó nhìn lên, bắt gặp ánh mắt thật lạ của người đàn bà. Trong đáy mắt hình  như có giọt nắng đọng lại. Chạm ánh mắt nó, hai giọt nắng xôn xao chao nhẹ rồi dịu lại rất nhanh. Nó lại nhìn xuống nền nhà. Im lặng.
 Nó bị đánh ghen lần thứ  hai bởi người vợ của ân nhân. Ai bảo nó ngủ trong buồng của  vợ chồng người ta. Ai bảo nó mặc quần áo của vợ người ta. Ai bảo nó quét tước dọn dẹp như là chủ nhà như thế. Ai bảo nó nấu cơm và ăn cùng chồng người ta như thế?
  Cả ngày, nó chỉ biết làm những việc lặt vặt  để trả ơn người ta cứu sống mình, trả ơn người ta cho nó có chỗ ngủ, trả ơn người ta cho nó ăn. Còn ân nhân của nó thì cứ lầm lì, chẳng nói gì. Nghe nó kể về hoàn cảnh, muốn xin ở nhờ ít lâu để tìm việc làm, anh ta chỉ nhìn nó và “ừ” một tiếng. Anh ta đi suốt ngày, tối về ăn quáng quàng vài bát cơm, lại đi tiếp. Nửa đêm về. Hai ba giờ sáng về. Có khi gần sáng mới về. Anh ta ngủ trong phòng bếp, nhường cho nó ngủ buồng  hai vợ chồng, đưa cho nó mấy bộ quần áo cũ của vợ. Hỏi vợ chú đi đâu? Đừng tò mò! Anh ta gắt, hình như có một đám mây đen kéo ngang làm cho gương mặt sầm tối lại. Nhưng cần gì anh ta nói. Ở cái xóm này, cái kim của nhà kia lòi trôn sang nhà nọ là thường! Cô vợ anh ta khá xinh, chỉ tội hay nhõng nhẽo, chỉ tội lười. Đi ra ngoài quần là áo lượt, son son phấn phấn, nhưng có khi nhà mấy ngày không quét. Ừ thì chồng siêng vợ phải nhác chứ. Được cả đôi có mà thiên lôi đánh chết! Nhưng thế mà Thiên Lôi vẫn đánh! Thiên Lôi đánh một tiếng sét ái tình vào vợ anh ta. Tại Thiên Lôi, hay tại  bên hàng xóm xây cái nhà  to tổ bố như thế? Hay tại thị chưa có đứa con mà bồng bế nựng nịu, mà bận rộn chăm sóc để khỏi lân la sang đó hóng hớt, trêu  đùa? Hay tại gã quản lí tốp thợ xây ăn nói mềm và dẻo như bánh nếp? Gã nheo mắt cười cười nhìn thị mà ngân nga: “ Em xinh, em đẹp, em giòn / Nghĩ em ôm gã thông bồn mà thương”. Để rồi thị thổn thổn thức thức. Để rồi thị mơ mơ mòng mòng. Thị nhấm nhẳng với chồng. Thị giận dỗi gắt gỏng. Thị khó chịu  bứt rứt. Người ta com- lê, cà vạt phẳng phiu, giày da đen láng bóng, chồng thị suốt ngày đồ bảo hộ lấm lem, giày ba ta rách mũi, Người ta  nói như mật rót vào tai, chồng  thị cứ như  dùi đục chấm mắm cáy. Người ta là trợ lí giám đốc, đi đứng toát lên vẻ phong lưu, chồng thị chỉ biết thông tắc bồn cầu, hút hầm vệ sinh, bẩn thỉu và hôi hám! Và rồi, một buổi sáng, anh chồng thông tắc bồn cầu thức dậy thấy một nửa giường trống lạnh. Cô vợ trẻ biến mất cùng mười lăm triệu đồng anh gom góp lâu nay…
 Chẳng biết anh ta đi những đâu để tìm vợ trong những đêm tối trời như thế, còn cô vợ vào một buổi sáng đẹp trời bỗng đột ngột trở về. Xơ xác xạc xờ như cây chuối sau bão, thị cúi mặt bước vào nhà, đụng ngay nó ở cửa buồng. Mắt thị mở to hết cỡ, miệng thị há ra, cơ mặt giật giật như người động kinh. “ A! Con ranh! Mày mọc ở đâu ra đó hả? Mày thế chỗ tao nhanh thế hả?” Mặt nó tái xanh, nó lắp bắp: “ Dạ…dạ…em…em…” “ Tao giết! Tao giết!” Thị chạy xuống nhà bếp cầm con dao, nó hoảng hồn co cẳng chạy ra cổng. “Đứng lại ngay, con đĩ! Mày chạy đằng trời!” Mọi người túa ra. Thị đã đuổi kịp . Tóc nó xõa tung. Thị giơ dao, chém ! Nó ngã sấp mặt xuống đường. Thị chồm lên, chém tiếp. Người ta la ó. Người ta vây lại. Một người giằng con dao trong tay thị vứt ra. Một người ôm lấy thị. Huyên náo cả một góc xóm. Nó lồm cồm ngồi dậy, đau ê ẩm sau gáy. Mái tóc dày và dài đã giúp nó thoát khỏi tay thần Chết! Thị lăn ra đường khóc tu tu. Thị đấm tay vào ngực thùm thụp.  Thị gào tưởng như đến rách cả họng:“Trời ơi là trời! Sao số tôi khổ thế này hả trời! Đàn ông, toàn một lũ đểu cáng, một lũ bội tình bạc nghĩa! Thằng com lê cà vạt ngốn hết mười lăm triệu  rồi lặn mất, thằng quần áo bảo hộ thì đã vội rước đĩ về nhà! Chúng mày chết hết đi! Chết hết đi!”
Người đến mỗi lúc một đông, y như xem một gánh hát lâu ngày qua xóm.
  Nó vẫy tay, nhảy đại lên một chiếc xe khách. Thế là nó đến đây, một vùng bạt ngàn mía, bạt ngàn cam. Người đàn ông ấy gặp nó đang ngơ ngác như con nai lạc khỏi rừng. Anh ta hỏi han nó, lo cho nó chỗ ở, đưa tiền cho nó ăn, hứa sẽ tìm việc cho nó…
   Nó bỗng quì xuống, ngước đôi mắt cầu khẩn  nhìn người đàn bà:
-         Xin dì tha cho cháu! Cháu biết lỗi rồi dì ơi!
Người đàn bà ngồi hẳn xuống nền nhà, ôm lấy nó, thảng thốt:
-         Cháu con mẹ Ánh, xóm 5, Thịnh Lộc, đúng không? Đúng không?
Nó mở to mắt ngạc nhiên. Lâu lắm rồi có người gọi  tên mẹ nó. Mà lại là một người ở tận chốn xa xăm này!
-         Sao dì biết mẹ con?
-         Trời ơi! Ánh ơi! Mày đi Trung Quốc lấy chồng để con đến nông nỗi này sao? Con ơi, con mới mười lăm tuổi thôi, đâu phải là mười bảy? Mẹ con là bạn thân nhất của dì hồi xưa đấy!
 Nước mắt người đàn bà nhỏ xuống dính bết tóc nó. Những giọt nước mắt nóng ấm làm  tim nó bỗng nhiên mềm lại, đập rộn ràng.
*  *
  *
         Đêm. Ngôi nhà ba gian bừng ánh điện. Thằng Lộc ríu ran:
-         Chị Tuyết này, em cho chị năm cuốn vở, chị Thịnh cho chị năm cuốn, thế là gần đủ vở ghi rồi đấy nhé.
Thịnh cốc nhẹ vào trán em:
-         Mẹ bảo sách vở, đồ dùng của chị Tuyết có bố mẹ lo, đừng lanh chanh!
 Rồi quay sang Tuyết:
-         Từ nay có chị, đêm ngủ em có người để gác chân rồi, hi hi...
Tuyết cười thật nhẹ, nghĩ đến ngày được cõng chiếc ba lô mới tinh trên lưng cùng Thịnh, Lộc  đến trường, thấy vừa háo hức, vừa ngường ngượng.
Phòng trong, hai vợ chồng ngồi lặng, chìm trong kí ức. Người chồng cất giọng buồn buồn phá tan bầu không khí đang đóng băng:
-         Em này, tự anh, anh cũng không bao giờ tha thứ cho tội lỗi mà anh gây ra nên anh không dám xin em tha thứ. Nhưng anh xin hứa với em, thầm hứa cả với Ánh, sẽ coi con cô ấy như con của chúng ta. Hãy tin anh, em nhé?
Người vợ quay sang, úp mặt vào ngực chồng thổn thức.


               Những ngày giá lạnh Giáp Ngọ. 
                                          NT

Thứ Bảy, ngày 10 tháng 1 năm 2015

TRỜI MƯA BONG BÓNG PHẬP PHỒNG (tiếp theo)

Giọt nắng đã mờ đi nhiều, dịch xa chỗ nó ngồi thêm một quãng, giờ nó giống lát khoai  bà cắt phơi vào những ngày nắng hiếm hoi của tháng chạp.  Người đàn bà vẫn ngồi nhìn chăm chắm vào mặt nó.
-         Ở xã nào của Can Lộc?
-         Thịnh Lộc.
-         Thế…con ai ở Thịnh Lộc?- Giọng người đàn bà bỗng thảng thốt.
 Nó lại ngồi im…
Mười ba tuổi, nó trở thành con nuôi của cô Hương. Người bảo  may cho nó, tứ cô vô thân, có cô Hương nhận làm con, chắc bà nó dưới suối vàng cũng an lòng ấm dạ. Người bảo cô Hương thế mà tốt số, con gái lấy chồng rồi, bỗng dưng có thêm  con, chẳng phải đẻ chẳng phải nuôi mà lại được nhờ. Nó không quan tâm những lời bàn tán ấy. Mỗi buổi sáng, tay bưng bê phục phụ khách ăn, tai nó lắng nghe những âm thanh ngoài đường cái. Những tiếng trêu nhau chí chóe, những tiếng cười trong trẻo, những bước chân rộn rã…Chẳng cần nhìn ra, nó cũng hình dung mồn một từng tốp, từng tốp, khăn quàng phấp phới trên vai, những chiếc ba lô xinh xắn đủ màu sắc trên lưng lắc lư theo những bước chân tung tẩy. Nó thảng thốt nghe tiếng trồng trường mơ hồ vọng lại. Hình như có cả giọng ấm mềm của cô giáo đang giảng bài?  Mỗi buổi chiều, sau khi bóc hành bóc tỏi, quét tước dọn dẹp lau chùi mọi thứ sạch sẽ tinh tươm, nó bần thần nhìn theo đám bạn đi học thêm. Chúng rượt nhau, giành nhau một gói bim bim hay một que kẹo mút. Tiếng cười trong trẻo của lũ bạn xa dần, xa dần… Nó cứ lặng đi như thế nếu như cô Hương không đặt tay lên vai nó và bảo:
“ Cháu vẫn muốn đi học chắc? Học để làm gì? Đại học ra trường ngồi bán kẹo cu đơ với chè đâm, đi bán ngô nướng, đi phụ hồ đầy ra kia. Đấy, con Lý nhà cô, bốn năm đại học mất hơn hai trăm triệu, giờ về lấy chồng, ngày hai bữa cắt cỏ cho cá. Ở với cô, ngoan ngoãn siêng năng, ít năm cô tìm cho một thằng tử tế, có sức khỏe. Thế là ổn.”
Nó im lặng. Cô đâu biết rằng, nó chẳng nghĩ xa xôi như thế. Nó mới mười ba tuổi thôi mà! Nó đến trường đâu chỉ để học? Đi học, nó có bạn để chơi các trò ô ăn quan,  bịt mắt bắt dê, thả đỉa ba ba... Đi học, nó được cùng lũ bạn tám đủ thứ chuyện trên trời dưới đất và cười như nắc nẻ. Thỉnh thoảng, cô giáo bị ốm. cả lớp lại ồ lên vui như tết. Cô ốm, tha hồ mà hò hét, mà múa may, mà chạy nhảy. Rủi ro, nếu có cô khác dạy thay cũng tránh được nạn hỏi bài cũ! Đi học, nó và tụi bạn còn được bày trò gán ghép đôi nọ đôi kia. Giờ học, lũ bạn tủm tỉm cười, rón rén chuyền tay nhau một mẩu giấy nhỏ vẽ hai trái tim méo dệch méo dạc  viết tên nó và kẻ kia vào. Nó làm mặt giận nhưng lại lén liếc xem thái độ kẻ kia, bắt gặp hắn ta cũng đánh mắt  sang đầy tình tứ! Ừ, hình như nó  thấy cũng vui vui, thinh thích. Đi học, nó còn được tham gia vào đội văn nghệ của lớp. Ngày 20/11, xúng xính váy áo, tô son điểm phấn, mái tóc dài của nó buông xõa …bọn bạn cứ là trố mắt trước sự hóa thân  kì diệu của nó trong vai cô giáo vùng cao…
  Nghĩ miên man, nó nén một tiếng thở dài, đi vào muối thêm mấy lọ tương ớt.
Trong thâm tâm, nó rất biết ơn cô Hương. Cô bày vẽ cho nó chu đáo, cẩn thận. Cô cũng an ủi động viên nó những lúc hai cô cháu ăn cơm với nhau. Những lúc đó, cô thật dễ gần. Cô nhìn thẳng vào mắt nó, bộc bạch:
-         Cháu đừng nghĩ xấu về cô, đàn bà góa bụa, làm ăn buôn bán trong thời buổi này cần có người đàn ông che chở mới yên thân.
 Ý cô đang nhắc đến lão San, một lão vai u thịt bắp với cái mặt mà mỗi lần nhìn  nó vẫn không tránh được cảm giác buồn nôn. Hai túm lông mũi đen và cứng như rễ tre thò dài ra, chen với đám râu ria hoe hoe dở vàng dở đỏ trên mép. Hàm răng trên to như răng trâu, vênh vang chìa ra khoe cái màu vàng xỉn do khói thuốc,  cặp môi dày, thâm xì bị răng chống lên, căng bóng bánh, nhờn nhờn như quết một lớp mỡ.
   Ba rưỡi sáng lão đến nhập lòng. Chín giờ sáng, quán cháo vãn khách, thì bà Nhung, vợ lão, đi nhập thịt về vào lấy tiền. Cô Hương thường chiêu đãi một bát cháo lòng có nhiều dồi theo sở thích của bà ấy. Hai chị em tỏ ra thân tình lắm. Cũng đúng thôi, chỗ làm ăn lâu dài với nhau. Bà Nhung ăn bát cháo, khi tính tiền lòng lại bớt cho cô Hương mấy lượng. Bánh ú trao đi, bánh dì trao lại, mất đi đâu. Có mất là bà Nhung mất toi tiền cho lão San ấy. Nó nghe bà Nhung hạ giọng thầm thì:
- Lão San nhà tôi ấy mà, trông người thì như trâu mộng thế nhưng cái khoản ấy rõ chán! Cả tháng cấm thấy động đến vợ một lần.
-         Thế sao? – Cô Hương nén cười – chị thử mua thuốc cho anh ấy xem.
-         Ối dào! Thứ gì quảng cáo trên ti vi mà tôi chẳng mua cho ông ấy: nam thận bảo này, rốc-két này, rồi cá ngựa ngâm rượu, rồi dái dê cách thủy, cu cu hầm hạt sen…thế mà chẳng nước non  gì! Tốn bao nhiêu là tiền!
Cô thoáng đỏ mặt, nghĩ đến sự hùng hục như trâu húc mả của lão San  vào lúc ba rưỡi sáng…
*         *
     *
   Lần đầu tiên nó bị đòn ghen là từ bà Nhung.  Nó bị bà  quấn tóc, xô chúc đầu vào hố phân lợn đặc quánh. Nó ngập ngụa trong hố phân.  Phân sộc vào mồm, sộc vào mũi. Phân dính bết mái tóc dài sõa sượi. Phân  ướt đẫm bộ đồ ngủ. Phân ngấm vào từng lỗ chân lông trên cơ thể nó. Bà lôi nó đứng lên, phân ngập đến bụng. “Tại sao mày quyến rũ ông ấy? Đồ con nít ranh. Ông ấy còn lớn tuổi hơn cha mày đấy, mày biết không? A, cha mày là  thằng Trung Quốc! Mày con thằng Trung Quốc nên ác như Trung Quốc, đểu như Trung Quốc, thâm như Trung Quốc! Nào nam thận bảo, nào rốc két, nào cá ngựa, nào dái dê, nào cu cu…tất cả đổ vào cái lỗ tun hút chết tiệt của mày! Đồ đĩ ranh! Mày chết đi!  Mày chết dưới hố phân luôn đi! Tao chôn!” Vừa chửi, bà Nhung vừa cầm tóc nó mà lắc, mà giật liên hồi kì trận.
  Nó quyến rũ lão San ư? Nó còn nhớ như in cái cảm giác ngạt thở, buồn nôn khi bị lão lấy tay bịt chặt mồm, ghì  xuống giường cô Hương đêm cô đi chăm con gái mổ ruột thừa. Nó giãy dụa, cố sức thoát ra khỏi tấm thân hộ pháp của lão đang đè lên nó. Nó huơ chân đạp, nó dùng tay đấm. Chẳng ăn nhằm gì với khối thịt đồ sộ ấy. Rồi tấm thân mảnh dẻ của nó lả dần đi. Tỉnh dậy,  nó nhìn thấy vệt máu hồng hồng trên tấm ga xanh. “Bà ơi!” Nó nấc lên. Đáp lại chỉ có bóng đèn điện  lạnh lùng tỏa sáng.
  Nó sợ. Sợ cái mặt gớm ghiếc của lão San vẫn lằm lằm nhìn nó đầy đe dọa. Sợ cô Hương biết chuyện nó sẽ chẳng yên thân. Nhưng những sự thay đổi bất thường trên cơ thể nó làm cô Hương chú ý. Cô Hương tra hỏi, nó đã khai thật. Cô nghiến răng trèo trẹo: “ Trời ơi là trời! Đồ mất dạy! Đồ phản bội! Đồ đểu cáng!” Cô đạp chân xuống giường, cô giãy đành đạch như cá mắc cạn. Cô trằn trọc, cô khóc lóc suốt đêm! Sao lão lại có thể làm tình với nó ngay trên chiếc giường của cô chứ? Chiếc giường này bao năm nay chỉ có lão và cô vui thú với nhau. Thế có điên không? Thế có nhục không? Thế có đáng băm vằm lão ra từng mảnh không, hử? Trời ơi là trời! Đúng! Phải cho lão ra bã luôn. Nhưng trị bằng cách nào đây? Cô nghĩ đến vợ lão…
  Sau mỗi cú lắc đảo của bà Nhung, đầu nó tê đi, những sợi dây thần kinh như đơ ra. Nó không nghĩ được gì nữa. Tiếng la ó, tiếng dẫm chân dẫm cẳng của đám đàn bà, con nít xung quanh chỉ làm cho bà Nhung điên lên như con sói dại . Có tiếng bước chân huỳnh huỵch. Lão San từ đâu chạy về, lao đến chộp lấy cổ vợ, bóp mạnh. Mắt bà Nhung trợn trừng, tay từ từ buông khỏi mớ tóc của nó. Nó được kéo lên khỏi hố phân, tã tượi, dúm dó như đống giẻ rách. Máu dưới háng nó trào ra, đỏ lênh láng, trộn lẫn màu nước phân đen kịt. Sinh linh có một phần tư dòng giống thằng Trung Quốc đã ra khỏi thân thể vừa chớm sang tuổi mười lăm của nó như thế.

                          (còn nữa)               

Chủ Nhật, ngày 04 tháng 1 năm 2015

TRỜI MƯA BONG BÓNG PHẬP PHỒNG



Chiếc xe con màu đen láng bóng tấp dần vào rồi ép hẳn chiếc xe máy suýt rơi xuống đường mương bê tông. Gã đàn ông dừng xe, chống chân xuống, chưa kịp quay lại nói gì với nó thì một người phụ nữ gương mặt đen xạm đã chiếu đôi mắt sáng quắc vào đôi mắt thất thần của gã.
-         Mẹ nó làm gì mà…
Khi mấy tiếng ấy đang khó khăn  chuồi ra từ cái quai hàm đã cứng ngắc của gã thì nó đã bị hai thanh niên lực lưỡng xốc nách lên xe. Người phụ nữ cũng bước lên theo. Chiếc xe lướt êm ru trên con đường nhựa phẳng lì lấp lóa nắng thu vàng dịu .

  Vệt nắng chiếu một đường thẳng tưng từ cái lỗ  đâu đó, in giọt nắng  hình e lip xuống nền nhà. Nó ngồi bó gối, ngó trân trân vào giọt nắng đang rung rinh rất nhẹ. Tim nó chai đi, trơ ra như một khối u đã bị vôi hóa. Nó chẳng có cảm giác sợ hãi, cũng không ngạc nhiên vì sao nó bị bắt về đây. Gã đàn ông bao nó ăn uống trong nhà trọ đã một tuần nay rồi. Gã hứa sẽ tìm cho nó một việc làm thích hợp. Nó cứ chờ. Và đêm, sau khi làm tình với nó xong, gã lại lăn ra đánh một giấc ngon lành như gã nhà nông sau một ngày cày ruộng mệt lử có thêm chén rượu nếp. Tảng sáng, để lại cho nó ít tiền tiêu trong ngày, gã bảo: “ Yên tâm đi, vài ngày nữa anh sẽ tìm được việc cho em.”. Hôm nay gã bảo sẽ chở nó đi xin việc. Và giờ, trước mặt nó là vợ gã. Còn gã nghe nói đã phóng xe đi đâu mất tiêu!
           Nó đang chờ những  đòn hành hạ của người đàn bà này. Những  đòn đánh ghen mà nó đã nếm trải mấy lần. Sau mỗi lần, nó đều tả tơi, nhàu nát như mớ rau cải dưa trước đây ngoại nó nhồi trước khi cho vào vại muối.
-         Tên gì?
-         Tuyết.
-         Bao nhiêu tuổi?
-         Mười bảy.
-         Quê  ở đâu?
-         Can Lộc.
-         Bố mẹ làm gì?
   Nó im lặng. Người đàn bà nhìn nó, cái nhìn không phải giận dữ, không phải hằn học. Một cái nhìn có gì đó như là sự xót xa, như là sự thương cảm, như là một nỗi đau. Mặc! Nó cũng chẳng cần nghĩ ngợi gì cho nhiều. Nó như chiếc lá vật vờ từ khi bà mất. Đã nhiều trận cuồng phong cuốn chiếc lá  xoay tít trên không trung rồi lại hất xuống, lại vật vờ trong lấm lem bụi đất. Nó cũng không hơi sức đâu mà suy nghĩ, mà lo lắng. Thì cũng chết là cùng chứ gì? Chết thì nó lại được gặp bà, lại được bà vuốt vuốt mớ tóc vừa dày, vừa dài của nó mà bảo: “ Mày giống hệt mẹ mày, nhất là mái tóc.” Rồi bà lại nhìn ra xa như ngóng chờ, như hi vọng…
   Giống mái tóc dài của mẹ làm gì cơ chứ? Nếu không vì mớ tóc dài, chắc gì mẹ đã bị bắt cóc? Mẹ là đứa con duy nhất của bà, học xong lớp mười hai,  mẹ ở nhà buôn bán hoa quả để có điều kiện chăm sóc bà. Mẹ xinh lắm, nghe bảo từng đạt giải nhất cuộc thi học sinh thanh lịch của trường cấp ba hồi đó. Cô bán hàng có nụ cười tươi như hoa, cặp mắt đen lúng liếng và suối tóc mượt mà chảy tận gót chân tạo nên vẻ mềm mại, dịu dàng, tha thướt  không chỉ đám mày râu mà phải đẹp cũng ngẩn ngơ đứng nhìn không chán mắt. Bà kể cho nó nghe hàng trăm lần rồi, nó thuộc rồi mà  vẫn muốn nghe. Nó nghe để được hỏi bà những câu có từ “mẹ”.
-         Mẹ cháu lúc đó đã yêu ai chưa bà?
-         Có, có yêu một đứa học cùng lớp nhưng bà cấm.
-         Sao  lại cấm?
-         Ôi trời, mới mười lăm mười sáu, con nít con nôi, yêu với chả đương!
-         Thế khi mẹ bị bắt cóc, người ấy có buồn không?
-         Nó khóc lóc hàng tháng trời ấy chứ. Nó bảo nó sẽ đi tìm bằng được, không tìm được thì nó  chết.
-         Thế sau đó không tìm được mẹ, người đó có chết không?
-         Bố cô! Con người ta chết có số chứ. Khi mẹ mày đột nhiên về sinh mày, nó đau khổ lắm. Rồi nó quyết định lấy con bạn thân nhất của mẹ mày và cả hai bỏ làng đi làm ăn đâu xa lắm.

 Mẹ bị người ta chụp cái bao tải và đưa lên chiếc xe công nông trong một buổi chiều nhập nhoạng khi đang trên đường đi chợ về. Mái tóc dài trở thành sợi dây thừng quấn ngoài bao tải trói chặt mẹ. Bà ngất lên ngất xuống. Rồi gần một năm sau, mẹ trở về với cái bụng vượt mặt. Bà đang vật vờ như cái xác không hồn trở nên tươi tỉnh, khỏe mạnh. “Con về là tốt rồi. Chửa thì đẻ, đẻ thì nhà có thêm người, con đừng nghĩ gì mà khổ”. Bà vừa gội đầu cho mẹ, tỉ mẩn gỡ từng lọn tóc rối cho mẹ, vừa thủ thỉ với mẹ như thế. Mẹ bị người ta bắt bán sang Trung Quốc nhưng may mắn được làm vợ một người đàn ông đàng hoàng, tử tế. Mẹ bảo ông ấy cũng thương mẹ lắm.  Thay cho việc bắt mẹ phá thai khi biết đó là con gái, ông ta đưa mẹ một số tiền rồi bảo về Việt Nam mà đẻ rồi sang đây. Bà bảo, thôi con ạ. tốt cũng là người Trung Quốc. Con đừng nghĩ chuyện sang đó nữa. Mẹ im lặng. Rồi mẹ nhẫn tâm bỏ đứa con mới bảy tháng tuổi cho bà mà đi. Mẹ viết giấy để lại, bảo con đi kiếm thật nhiều tiền rồi  con về, mẹ nuôi nó cho con . Bức thư nhòe nhoẹt nước mắt của mẹ, nhòe nhoẹt nước mắt của bà. Mười mấy năm rồi, mẹ đâu về nữa. Đường dây buôn bán phụ nữ sang Trung Quốc bị phá. Mẹ có tên trong danh sách những kẻ cầm đầu đang bị truy nã. Nhưng nhờ có nó, bà đã gượng dậy để sống. Sống mà nuôi đứa cháu bé bỏng. Sống mà hi vọng đợi chờ đứa con gái duy nhất trở về. Bà đi làm thuê cho các quán ăn. Quán ăn bà làm lâu nhất là quán cháo sáng của cô Hương. Cô Hương góa chồng từ hồi chưa đầy ba mươi tuổi. Cô quí bà không chỉ vì bà chịu khó, cẩn thận mà còn vì bà là người kín miệng. Bà cứ lầm lũi làm, chẳng muốn trò chuyện với ai. Những lúc đi học về rảnh rỗi, nó lại  đến phụ giúp cô thái rau lợn rau gà, bóc mớ hành mớ tỏi. Ngày chủ nhật nghỉ học, nó theo bà đến phụ giúp cô từ ba giờ sáng. Cô chẳng mất thêm tiền công vì bà bảo nó học làm cho quen, con gái con lứa phải thạo việc gia đình, bếp núc. Nó bảo bà, cái  ông San lòng lợn đến nhập lòng lúc ba rưỡi sáng, lúc nào cũng vào buồng cô Hương, cả hai người vật nhau hùng hục trong dó. Bà lừ mắt, bảo muốn sống yên thân phải biết giả đui đi, phải biết giả câm đi, nhớ chưa? Bà muốn sông yên thân nuôi nó, vậy mà ông trời cũng không cho bà sống. Đang ngồi rửa bát, bà ngã sóng soài, tay giơ lên chới với, miệng ú ớ . Cả cô Hương và nó chạy đến thì bà ngoẹo đầu, xuôi tay. Lúc đó nó mới mười ba tuổi.
               (Còn nữa)

Thứ Tư, ngày 31 tháng 12 năm 2014

TẢN MẠN NHỮNG VUI BUỒN.

 Ngồi lặng trước màn hình máy tính. Chẳng nghĩ gì mà nước mắt cứ rơi. Thật vớ vẩn! Con nít con nôi gì nữa mà khóc? Nước mắt giải quyết được gì? Lại ước một bàn tay vụng về, lóng ngóng cầm chiếc khăn lau khô những giọt nước đáng ghét kia. Lại vớ vẩn! Trẻ trung gì nữa mà mộng với mơ?
 Tờ lịch cuối cùng còn lại trên tường. Tờ lịch ngày thứ Tư, ba mốt tháng mười hai, nhằm ngày mồng mười tháng mười một năm Giáp Ngọ. Năm con Ngựa. Năm tuổi của tôi. Sau đêm nay, tờ lịch kia  rơi vào quá khứ. Một năm trôi qua…
   Hồi đầu năm, nhà thơ Võ Khánh Cừ lên giao lưu với Hội VHNT Quỳ Hợp, nhìn tôi và bảo: “Năm nay là năm có nhiều sự kiện với em đấy” “Buồn hay vui hả anh?”  Nhà thơ thủng thẳng:“ Cuộc đời có buồn. có vui, em hỏi thừa.” Tôi chợt nhớ đến những câu thơ tôi đã từng viết:
Vâng,  trong cuộc đời ta
Buồn vui ai chẳng có?
Vui làm ta thêm trẻ
Buồn làm ta chóng già
Vui: cuộc đời nở hoa
Buồn: đời đang kết trái.
 Nhà thơ Khánh Cừ hình như cũng có chút võ vẽ về tướng số gì đó, bảo em cứ nhớ lời anh nói xem có đúng không.
  Sự kiện đầu tiên là tôi biết đi xe máy. Con người nhát gan nhất quả đất là tôi đã dám bỏ ra ba mươi triệu để thử xem mình có bình thường như mọi người không. Mua xe về rồi, mới cầm thử tay lái đã thấy sợ. Thôi, cứ đi xe đạp cho an toàn. Con gái cười ngất, bảo mẹ âm lịch quá mức, xem con đây này. Nó lên xe, nổ máy phóng ra đường làm tôi sợ chết khiếp. Ngày mồng một tết tập xe, đi mấy cây số  chóng mặt ngất ngư, tự trách mình dại dột, sao lại rước cái của nợ ấy về cho khổ thân. Anh gọi điện, trêu: “cái chi cũng giỏi…” Tôi tiếp: “Chỉ đi xe máy là ngu nhất thôi.” Nhưng rồi tôi đã cố, cái gì cũng phải cố, không được đầu hàng! Mỗi lần đi về lại say, lại chóng mặt. Có khi đi trên đường cũng chóng mặt, phải dừng xe, ngồi xuống nghỉ. Nhưng rồi quen dần, tôi đi được khoảng 4 cây số mà không phải dừng lại nghỉ. Và cuối cùng, cảm giác buồn nôn khi ngồi trên xe cũng mất. Giờ thì tôi đã  đi hàng trăm cây số vô tư!
  Sự kiện thứ hai là tôi được kết nạp vào Hội VHNT tỉnh. Lần đầu nghe mọi người gọi tôi là nhà văn, ngượng quá! Thực tình tôi không thích gọi thế, tôi chỉ thích được gọi là cô giáo thôi. Từ "cô giáo" nghe nó gần gũi, thân thương, trìu mến và đáng yêu lạ! Từ "nhà văn" có vẻ sang, nhưng với tôi nghe lạnh lùng, xa xôi, khách sáo quá! Ừ, mà hãy nên chỉ là một cô giáo thôi, một cô giáo có niềm đam mê văn chương, thế là đủ.
  Vào Hội, tôi lại nghĩ đến việc ra một đầu sách.  Qua  từng khâu, từng bước, tôi chia sẻ với Anh những suy nghĩ, những trăn trở. Tôi muốn nghe từ Anh những lời động viên, những lời góp ý. Nghe Anh nói để tôi vững tin hơn trong công việc của mình. Chẳng hiểu vì sao, Anh trở thành điểm tựa tinh thần vững vàng trong tôi như thế.  Và GÓC KHUẤT, đứa con tinh thần đầu tiên của tôi ra đời.Đó có thể gọi là sự kiện thứ ba.
  Sau khi được kết nạp vào Hội, tôi được mời dự trại sáng tác. Nhà văn Thái Tâm bảo: “Anh vào hội mười năm nay, đã được đi trại sáng tác lần nào đâu!” Nhà thơ Ngọc Sơn thì nói, anh cũng vào hội mấy năm mới được đi dự trại sáng tác đấy. Nói thế làm tôi thêm ngại, thêm áp lực. Có vẻ như mình được ưu ái hơn? Nếu mình viết chẳng đạt yêu cầu thì thật xấu hổ! Thật may, kết thúc đợt sáng tác, tôi nạp truyện ngắn ĐIỀU BÍ MẬT, nhà văn Nguyễn Thế Quang, trưởng ban văn xuôi, nhận xét truyện có bố cục chặt chẽ, đề tài cũ nhưng cách thể hiện mới, giọng văn giàu cảm xúc, cách kể cuốn hút, kết thúc để lại nhiều dư vị… Tôi thở phào nhẹ nhõm, cảm thấy tự tin hơn khi tặng sách cho bạn bè. Đây là sự kiện thứ tư.
  Trong hè vừa rồi, tôi được nhận giải thưởng dành cho một trong mười bài viết xuất sắc nhất về hoạt động công đoàn nhân 85 năm thành lập công đoàn Việt Nam. Giải thưởng của báo Lao động Nghệ An. Thầy chủ tịch công đoàn ngành phấn khởi lắm, bảo: “Vinh dự lắm em nha, người nhận giải trong tỉnh toàn là nhà văn, nhà báo cả đấy, chỉ có em là nhà giáo thôi.” Tôi cười: “Em cũng nhà văn chứ thầy tưởng!”Thầy nghĩ tôi đùa, nhưng khi tôi đưa GÓC KHUẤT ra khoe, thầy ngạc nhiên: “Thật răng em? Ôi trời, dừ anh mới biết, em giỏi quá!” Mũi tôi phập phồng, phập phồng...tưởng như hút hết cả bàn ghế, giường tủ, máy tính, quạt điện... trong phòng chủ tịch!Thầy bảo đem lên 100 cuốn, thầy bán cho các trường. Tôi chỉ chờ có thế. Lại gọi điện khoe với Anh cho niềm vui nhân lên. Chỉ là đi nhận giải thưởng cho một bài viết, vậy mà xe đưa xe đón, cơm bưng nước rót, khách sạn nhà hàng, quay phim chụp ảnh …cứ nhặng xị lên như cán bộ cấp cao đi công tác. Nghĩ cũng hay hay. Đó là sự kiện thứ năm.
 
   Sự kiện thứ sáu vào gần cuối năm, sóng gió thực sự ập đến. Tôi như con thoi, khi ở Hà Nội, khi ở Vinh. Có ngày tôi ngồi trên xe máy bươn đến hơn ba trăm cây số. Mẹ ốm, mấy lần trong tình trạng báo động khẩn cấp. Rồi khi mẹ tạm yên thì anh ấy có kết luận đã ung thư phổi giai đoạn cuối. Tây y bó tay. Những ông thầy lang được dịp trổ tài. Nghe kể thì ông nào cũng hay. Chỗ nào tôi cũng tìm đến.  Chuyện những bệnh nhân ung thư bệnh viện trả về nằm chờ chết được thầy lang chữa khỏi làm  hi vọng vẫn còn lóe sáng. Hi vọng cháy lên như ngọn lửa que diêm rồi tắt ngúm. Năm ông thầy lang tiếp theo nhau đẩy bệnh tình của anh ấy càng ngày càng trầm trọng. Còn nước còn tát!Tin đồn về thầy Lột ở Diễn Châu, Nghệ An chữa khỏi cho nhiều người ung thư phổi làm tôi lại  háo hức tìm đến. Uống lần 1, thầy bảo đã giảm 35%. Uống lần 2, thầy bắt mạch và xác nhận giảm 60%. Tôi hỏi sao người bệnh vẫn yếu thế, vẫn đau lắm, vẫn ho nhiều. Thầy cam đoan chỉ thời gian ngắn nữa thôi là khỏi đau, khỏi ho. Thầy nói thế mà đúng. Chỉ hơn mười ngày sau, anh ấy hoàn toàn không đau đớn gì nữa cả, cũng chẳng ho thêm tiếng nào. Anh ấy nằm yên, thanh thản sau khi trút hơi thở cuối cùng! Những nỗ lực trong tuyệt vọng của tôi để giữ lại bố cho hai con trở nên vô nghĩa!  Nhìn hai con, tôi thương đứt ruột. Bố chúng là người luôn nuông chiều con. Và dù mẹ có nói bố thế nào, hai đứa vẫn coi bố là nhất. Giờ nhìn chúng ngơ ngác, không tin sự việc đang diễn ra trước mắt là có thật, lòng tôi như muối xát!
 Chao đảo, chông chênh. Những lúc ấy, tôi đọc những bài viết của Anh, tôi vịn vào đó mà đứng dậy.
  Tôi nói với hai con, các con cứ yên tâm, mẹ sẽ đứng vững và lo cho các con chu đáo. Mẹ sẽ thương các con thay cả phần của bố nhưng chắc chắn mẹ sẽ không nuông chiều các con. Nuông chiều nhiều, các con sẽ trở thành kẻ ích kỉ, vô tâm, thiếu trách nhiệm với gia đình, với người thân. Mẹ muốn các con phải đứng trên đôi chân của mình, bước những bước  vững vàng kể cả khi phải vượt ghềnh vượt thác!
 Ngẫm lại, thấy nhà thơ Võ Khánh Cừ  nói đúng!
 Nhưng cuộc đời là thế. Tôi đã từng xác định:
Đời nếu chỉ toàn vui
Ta ít khôn nhiều dại
Vượt qua một nỗi buồn
Đời bớt dại thêm khôn.
    Bạn bè khen tôi giàu nghị lực. Nghị lực của tôi có một phần tiếp nhận từ Anh. Anh là ai? Ở đâu? Làm gì? Tôi không biết. Mà nói như dân Nghệ chúng tôi, biết cũng nỏ để mần chi.
Anh tựa như  bảy sắc cầu vồng
Em nhìn thấy  mà không hề chạm được
   Giữa  cuộc đời chói chang, gay gắt
Anh: cây xanh tỏa bóng mát  trong em!
   Còn mấy giờ nữa, một lốc lịch khác sẽ được đóng lên. Lan man mấy dòng trước thềm năm mới, có vẻ lòng cũng nhẹ nhàng thanh thản đôi phần.
Xin kính chúc tất cả mọi người trong xóm blog spot của chúng ta một năm mới an lành, đón thêm nhiều niềm vui mới.

  
 


   

Thứ Hai, ngày 22 tháng 12 năm 2014

LỜI CUỐI CHO ANH

Thế là anh đã ra đi, vĩnh biệt trần gian về âm thế!
Anh vẫn là chồng em, dù đã từng nhiều lần bảo em làm đơn li dị!
Anh vẫn là bố hai con, dù em sẽ một mình nuôi dạy và lo cho tương lai chúng nó.
Những ngày cuối đời - anh bảo em đừng rời xa anh một phút giây nào cả.
Những ngày cuối đời - chị gái, em trai túc trực, canh chừng và lo cho anh từng li từng tí.
Nhưng những ngày cuối đời- anh muốn tự tay em rửa mặt cho anh, lau người cho anh, xoa bóp cho anh, bón cháo cho anh, và cứ cầm lấy tay anh như thế!
Những ngày cuối đời - em cảm nhận cơn khát sống trong mắt anh dâng lên mạnh mẽ!
Những ngày cuối đời - anh nói với em: "Vì anh mà em chịu khổ!"
Những ngày cuối đời - em đã tha thứ cho anh tất cả: không than phiền, không giận hờn, không trách cứ!
Những ngày cuối đời - em chăm chút cho anh bằng tình thương, bằng trách nhiệm và nghĩa vụ.
Thôi thì, đạo vợ chồng, mình sống với nhau không chỉ vì tình mà còn vì nghĩa.
Thôi thì, hãy tin rằng, mình đã trả  cho nhau món nợ từ kiếp xưa anh nhỉ?
Thôi thì, giờ nợ trần gian  đã trả, hãy  ra đi  thanh thản nghe anh !
Đến một kiếp nảo kiếp nào ta hết nợ còn duyên, biết đâu mình lại  là chồng vợ!
Mấy lời cuối cho anh, gửi qua khói hương, ở dưới suối vàng anh có tỏ?
                        Ngày  1/11/ Giáp Ngọ
(Tôi để bài hát AI VÔ XỨ NGHỆ anh thích nghe trong những ngày cuối cuộc đời)

Thứ Tư, ngày 12 tháng 11 năm 2014

CHỦ ĐỘNG!!!

(Vừa đi trường về, có chuyện hay hay, kể cho mọi người nghe này. Nhưng ai không thích đùa thì đừng đọc nha )

    Vừa bước vào phòng đổi giờ, tôi nhận ngay ra chị. Chị ngẩng lên nhìn tôi với  đôi mắt sưng húp, mặt buồn rười rượi như khoai mới trồng! To chuyện rồi đây.
-         Chị chỉ muốn chết thôi em ơi! Nhục quá đi, nhục quá đi!- Chị ôm lấy tôi. Những giọt nước lại ứa ra,  men theo nếp nhăn nơi khóe mắt, nhòe nhoẹt chảy trên má.
-         Chà chà, mới về hưu được mấy tháng, chết sớm thế bảo hiểm ăn mừng đó nha. Hơn nữa, chết đi thì tòa ngang dãy dọc kia để ai quét tước dọn dẹp? Con trai một dinh cơ ở Sài Gòn, con gái một biệt thự ở Hà Nội, chẳng đứa nào chịu về ở cái xó xỉnh này đâu nhá.- Tôi đùa.
 Hỏi mon men, hóa ra khi chị vào Nam chăm thằng cháu nội,  ông chồng nổi tiếng chung tình  và cô bạn thân của chị …mặc lộn quần nhau!
Một đồng nghiệp ghé tai tôi, nói nhỏ:
  - Bọn em cũng động viên mãi rồi mà chẳng ăn thua, chị cứ khóc tấm tức cả tiếng rồi đấy.!
 Tôi tỉnh bơ:
-         Theo em, lỗi là ở chị, khóc lóc gì!
Chị nhìn tôi, khó hiểu. Mọi người cũng ngớ ra.
-         Chứ sao! Nếu chị  chủ động trước mọi việc thì chẳng có gì phải buồn.
Mọi người nhao nhao:
-         Việc này thì chủ động sao được?
-         Có nghĩa là ngăn trước ư? Chẳng lẽ không đâu lại làm thế!
-         Ngăn trước thì chẳng qua cũng đọc đường cho hươu chạy!
-         Chúng đã có tình ý với nhau rồi thì ngăn đằng trời!
 Tôi triết lí….vụn:
-         Trời không ban cho đàn ông sức chịu đựng giỏi như đàn bà. Họ mà bí thì chẳng khác nào… bồn cầu bị tắc! 
-         Vậy nghĩa là… ???
 Tôi bảo mọi người im lặng để tôi kể câu chuyện cần chủ động như thế nào. Chuyện này tôi lượm được bên vệ đường thôi, nhưng  là sáng kiến hay, dễ áp dụng. Chuyện rằng:
   Có người vợ trước khi đi trông cháu đưa cho lão chồng một trăm ngàn và bảo: “ Tôi vắng nhà lâu, nếu bức bí quá thì mình sang nhờ cô hàng xóm, chỗ bạn bè thân quen cả, đừng ngại.” Lão  chồng hí hửng chờ vợ ra khỏi cửa là nhảy tót qua bờ rào. Chẳng biết được xơ hay  múi  mà khi về nhà cứ cười tủm tỉm.
 Một tháng sau, vợ về,  chồng thì thầm:
-         Nó lấy rẻ lắm, mỗi lần có ba chục. Thế nên lần cuối tôi boa hẳn cho nó 10 ngàn!
 Vợ trợn trừng mắt:
-         Ba mươi ngàn một lần còn rẻ nỗi gì? Mọi hôm cô ta vắng nhà, chồng cô ta sang nhờ, tôi có lấy đồng nào đâu! Đúng là đồ hàng xóm chẳng biết điều!
 Mọi người cười ran. Chị cũng cười thành tiếng. Những giọt nước mắt ráo tạnh.



  

Chủ Nhật, ngày 09 tháng 11 năm 2014

KHI VỞ DIỄN KẾT THÚC!

Câu hát cuối cùng vừa ngưng
Người diễn viên cúi chào khán giả!
Giòn tan tiếng vỗ tay như pháo nổ
Người người ào lên tặng hoa
Có ai đó xuýt xoa:
- Người đâu xinh, xinh thế!

Chẳng ai để ý
Nơi góc khuất ánh đèn
Người hóa trang lặng lẽ nhìn
Mãn nguyện.
Cô ca sĩ hát vọng
Cầm cốc nước nhấp từng ngụm
Hồi lại giọng ca vàng cho vở diễn tiếp theo...
                                NT

Thứ Ba, ngày 04 tháng 11 năm 2014

VU VƠ TƯƠNG...BẦN

    Chẳng mấy khi tôi mở mail vì lâu nay chẳng gửi thư cho ai và nghĩ cũng chẳng ai gửi cho mình. Hôm nay định gửi bài cho báo, mở mail ra, bắt gặp một người nào đó dám…trêu ong chọc rắn! Mà trêu bằng một bài thơ thật dễ thương:
Rằng xinh thì thật là xinh
Đường xa xa lắc anh kinh thật rồi
Hoa ngàn gửi lại rừng thôi
Trăng ngàn treo ở cuối trời mà trông!

    Chẳng biết thơ ai, nhưng chắc chắn là bạn blog vì bảo cảm xúc từ ảnh trên HƯƠNG NGÀN. Cảm xúc thơ rất trẻ, còn người chẳng biết đã gần sinh nhật bách niên chưa. Bạn trên blog thì nhiều, đoán mò sai thì mang tội với người, với trời. Thôi thì tôi xin trả lời trên HƯƠNG NGÀN vậy nhé.


 VU VƠ TƯƠNG... BẦN
Tiếc gì một chuyến ngược ngàn
Mà anh nỡ để hương tan vào rừng?
Vầng trăng hao khuyết rưng rưng
Núi nghiêng dáng núi, hoa tung nát chiều!
Chống sào trên bến cô liêu
Con tim thổn thức hát điều vu vơ!
                    Nhật Thành

  (Hôm trước đăng bài rồi, tác giả bài thơ nhắn: "Anh đùa vui vẻ thế thôi, đừng tương tư nhé!". Người sao mà dễ thương quá nhỉ? He he...
   Tôi thì chỉ sẵn tương...bần thôi, lúc nào trong nhà cũng có một chai. Đặc sản đấy, "nhút Thanh Chương, tương Nam Đàn". Vậy nên, bài thơ trên của tôi xin đặt nhan đề là: VU VƠ TƯƠNG ...BẦN!)



Thứ Tư, ngày 29 tháng 10 năm 2014

NGƯỜI MIỀN NÚI (phần cuối)

Lần đầu tiên dự thao giảng, tôi hồi hộp vô cùng. Ở trường vùng sâu, lớp tôi dạy thường chưa đến mười em. Và hầu như tôi thoải mái thích nói gì thì nói, giảng gì thì giảng, chẳng bài bản gì hết. Bây giờ, dưới lớp là mấy chục cặp mắt tròn xoe lạ lẫm nhìn lên «cô giáo búp bê », và cô cũng đang tròn mắt ngỡ ngàng nhìn xuống lớp. Ba vị giám khảo nhìn tôi. Tôi đọc được trong đó sự khích lệ : «Bình tĩnh đi em, chẳng có gì phải run cả »
     Thân em như trái bần trôi
Gió dập sóng dồi biết tấp vào đâu !
    Chỉ mấy phút đầu thôi, rồi tôi bị cuốn vào bài dạy. Tôi đang cùng các em đồng cảm với thân phận và cuộc đời người phụ nữ xưa với bao nổi nênh, bao va đập, bao tủi hờn, bao đắng đót, xót xa...Có những lúc, tôi như nghẹn đi trong lời giảng. Cả lớp im phăng phắc. Mấy vị giám khảo lặng lẽ nhìn tôi. Nhưng các em và giám khảo đâu biết rằng, tôi đang nói về thân phận người phụ nữ xưa trong ca dao nhưng lòng tôi đang nghĩ về những cô giáo - bạn bè tôi, đồng nghiệp tôi – nơi rừng sâu núi thẳm.  Tôi nghĩ đến nỗi xót xa của chị em khi cầm gương soi lên mặt mình sau mỗi lần sốt rét. Tôi nghĩ đến những ánh mắt thẫn thờ nhìn theo từng búi tóc rụng dập dềnh trên dòng suối mỗi lần chị em  gội đầu. Tôi nghĩ đến những tiếng khóc tấm tức trong đêm khi ai đó đọc thư người yêu nói câu từ giã...Tôi nghĩ đến những tiếng thở dài cố nén khi từng ngày thấy tuổi xuân lặng lẽ trôi trong vô vị và nhàm chán. Vâng, nếu chỉ nghe lời ca thôi : Ơi, cô giáo của bản làng, từ miền xuôi cô lên đây dạy chữ, là mùa xuân dập dìu trong tiếng suối, dưới mái trường cô vươn tới tương lai...  thì đẹp lắm, thi vị lắm. Nhưng có nếm trải những ngày dài lê thê không sách báo, không phim ảnh, không hẹn hò, không cả vị ngọt của một nụ hôn... mới thấy tâm hồn mình bị bào mòn đi, tê tái đi,  trở nên lạnh giá biết chừng nào! Vươn tới tương lai ư? Nghe sao mà mỉa mai, mà chua chát thế hỡi người nhạc sĩ !
   Với ba bài ca dao trong cụm chủ đề ca dao than thân, tôi đã chiếm được cảm tình của những vị giám khảo. Thầy tổ trưởng chấm thi nhận xét : «Em vẫn còn ôm đồm kiến thức, nhưng bài giảng rất có hồn.» Và thầy nói thêm: Cảm xúc  là tài nguyên quí cần gìn giữ để khai thác suốt đời của người dạy văn em ạ. Tôi nhỏ nhẹ : Dạ, và vốn sống cũng là điều cần thiết cho mỗi người dạy văn, phải không thầy?
   Cô hiệu trưởng trường cấp 1,2 Tiền Phong đến bắt tay chúc mừng và ngỏ ý muốn tôi sẽ ra dạy tại trường cô. Tôi cười bẽn lẽn : «Cái đó còn tùy thuộc tổ chức phòng giáo dục mà cô»

  Tôi vào trường, mang theo cả ánh mắt lưu luyến của một thầy giáo dạy cấp 3 nội trú. Số là trong những ngày trọ tại gia đình người quen để soạn bài và thao giảng, tôi gặp thầy giáo ấy - đồng nghiệp cùng trường với chủ nhà - đến chơi. Một chút quan tâm bằng lời hỏi han. Một chút giúp đỡ bằng việc chở đến điểm thao giảng. Một chút loạn nhịp qua cái nhìn âu yếm. Và cũng chỉ thế thôi. Khi trùng điệp núi rừng khuất lấp trung tâm huyện, dường như những «chút» ấy tan đi, bay theo gió trời! Vết thương lòng vừa mới mấy ngày trước đó đã làm tôi mất đi niềm tin vào cái gọi là tình yêu – thứ xa xỉ đối với những cô giáo vùng cao - nên tôi không lưu hình ảnh người ấy vào...lá phổi! Nghĩa là trong hơi thở của tôi không có nhịp thở của người ta.
  Vào trường mấy ngày, tôi nhận được thư. Thư chuyển tay do một cán bộ đi công tác đưa đến. Một bức thư khá dài, nét chữ vụng về nếu không muốn nói là xấu. Thư bày tỏ niềm thương nỗi nhớ, bày tỏ lòng yêu mến thiết tha. Cũng hay hay. Nhưng viết thư tình mà chữ xấu thế thì sự rung động phần nào giảm đi. Tôi chưa có ý định viết thư trả lời thì vài ngày sau lại một bức thư khác đến. Chẳng có gì mới hơn những điều đã nói trong bức thư kia. Tôi lại cho qua. Rồi liên tiếp, cứ có người vào là tôi có thư. Chị Lan giục: «Trả lời đi, im lặng như thế tội người ta.»
   Tôi có nên trả lời không nhỉ ? Nếu như so với bức thư của chàng kĩ sư lâm nghiệp thì thư thầy giáo thua xa ! Thua về chữ viết, chắc chắn rồi. Ngôn từ và hành văn cũng kém hơn nhiều lắm. Tôi đã từng nhiều lần giở bức thư ấy ra ngắm nghía  những dòng chữ đều đặn, rắn rỏi, từng thuộc lòng cả dấu câu những dòng thư ngập tràn tình cảm của chàng kĩ sư lâm nghiệp : «Em ơi ! Giờ đã mười hai giờ đêm rồi đấy, mấy phút nữa thôi, anh lại thêm một ngày nữa phải xa em. Anh tự hỏi, giờ này đây, nơi xa xôi ấy, em có mơ về anh ? Còn anh, nhìn bốn bức tường đâu cũng thấy hình em. Anh ước gì mình có đôi cánh để bay đến bên em... Thôi em nhé, anh sẽ dừng bút, dỗ mình vào giấc ngủ để bay đến em trong một giấc mơ hồng... »
   Nếu không đột ngột về nhà vào dịp thao giảng, có lẽ hàng đêm tôi vẫn còn ấp bức thư chàng vào ngực để thổn thức...

  Những ngày sau đợt thao giảng trở lại trường, tôi đã suy nghĩ và cân nhắc nhiều điều. Rồi cuối cùng, tôi quyết định ngồi vào bàn viết thư. Tôi đợi lúc mọi người đã ngủ say để tập trung cảm hứng. Bức thư dài kín 4 trang giấy học trò. Tôi cố gắng nắn nót thật đẹp từng nét chữ. Bốn trang chữ mềm mại, đều đặn. Tôi gấp cẩn thận và bỏ vào phong bì tự làm. Lại nắn nót đề địa chỉ, dán kín, nhờ anh bộ đội đưa thư ra bỏ thùng bưu điện hẳn hoi. Thư đi rồi, tôi hồi hộp chờ...Có lúc  giật mình suy nghĩ vu vơ... Có lúc lo lắng bất chợt như mình vừa làm điều phi pháp. Mọi người nhìn, trêu : «Yêu có khác!»
   Khoảng đâu mười ngày sau, năm người trong đoàn thanh tra của phòng giáo dục vào trường tôi. Một sự kiện chưa có xưa nay. Bức thư của tôi đã kéo được cả thầy trưởng phòng, thầy cán bộ tổ chức và 3 người nữa xắn quần lội bộ vào đây. Họ vào để xác minh những điều tôi trình bày trong thư gửi chuyên mục NHỮNG VIỆC CẦN LÀM NGAY là có hay không.(Hồi đó đang có phong trào thực hiện NÓI và LÀM của Nguyễn Văn Linh). Cuối thư, tôi viết : «Thử hỏi trên đây là những việc cần làm ngay hay những việc cần làm ngơ?»
   Qua mấy ngày thanh tra, đoàn kết luận : «Những điều nêu trong thư là có, phòng sẽ nghiên cứu xử lí  với từng trường hợp cụ thể.»
  Lúc này, mọi người mới vỡ lẽ rằng, lương mỗi giáo viên trường tôi trong suốt nhiều năm qua bị thầy chủ tich công đoàn bớt đi 16 đồng tiền dầu, nước mỗi tháng. Toàn bộ tem phiếu của giáo viên nữ, do không ra huyện được, đã bị thầy chủ tịch «mua hộ» rồi bán bỏ túi riêng. Những giáo viên dạy ở trường lẻ (tức là cắm ở các bản xa trường chính), lương  thường bị chậm hai  tháng là thường. Tiền lương còn bận quay vòng thuốc lào- xương khỉ - mộc nhĩ – trầm hương. Còn lương của giáo viên ở trường chính, gần hai chục người, thầy chủ tịch công đoàn nhận vào rồi chi tiêu tiền ăn. Trước tết và trước hè quyết toán, chúng tôi chẳng còn đồng nào sau khi trừ các khoản trong kí túc, thậm chí ba tháng hè cũng phải dồn vào trả nợ vì...âm tiền ăn! Những giáo viên vùng sâu, một năm hai lần ra huyện  vội vã mua vé xe về nhà, chẳng ai có thời gian quan tâm chuyện lương thưởng làm gì.
    Nếu không có dịp ra thao giảng, tôi sẽ không bao giờ biết những chuyện này, và mọi người vẫn vô tư khen thầy chủ tịch công đoàn sao mà tháo vát, năng động, giỏi làm ăn thế!
   Còn vấn đề thứ hai, liên quan đến đời sống tinh thần của các giáo viên vùng sâu, phòng hứa sẽ đều đặn gửi một số sách báo  vào cho trường. Tương lai sẽ xây dựng một tủ sách phục vụ cho giáo viên và học sinh vùng sâu xa. Những lời kêu cứu của tôi trong thư gần như được phòng quan tâm đáp ứng đầy đủ, mặc dù hôm đầu gặp một chuyện không may.
    Chả là thấy đoàn vào, thầy chủ tịch công đoàn vội vàng đi kiếm một con lợn để thịt tiếp khách. Riêng về khoản này thì thầy quá giỏi. Chẳng biết cái món tiết canh lòng lợn nó hấp dẫn thế nào mà ăn xong một lúc thì thầy trưởng phòng nhớn nhác tìm nơi để...  «giải quyết đầu ra». Một thầy giáo đưa cho trưởng phòng một tờ giấy và bảo hãy lên trên đồi bơm bớp kia. Khi thầy còn dang dở thì đàn lợn năm sáu con, con nào cũng sợ mất phần, nên chúng vừa kêu ộc ộc vừa phóng rình rịch tới. Thầy hoảng quá, xách quần chạy. Thế là thầy mang về kí túc cái mùi không mấy dễ chịu do vương vãi cả quần cùng với sự bực bội, nóng nảy: «Cả kí túc hai chục người mà không làm nổi một nhà vệ sinh? Đây không phải là việc cần làm ngay sao?»  Hiệu trưởng tái mặt, lắp bắp xin sẽ khắc phục ngay ngày mai. Tôi chợt nghĩ đến việc hai chục con người đi vào một chỗ mà rùng mình nhớ nhà vệ sinh công cộng ở trường sư phạm. Mỗi lần bước vào là phải nín thở, giòi lúc nhúc bò đầy nền xi măng. Sau cả tiếng đồng hồ, mùi kinh khủng ấy vẫn chưa chịu rời khỏi quần áo. Vậy thì ở đây, ngồi trên đồi trong làn gió mênh mang chẳng sướng hơn sao? Nhưng muốn đàn lợn không quấy nhiễu thì phải cầm thêm cái gậy!

    Trước khi rời trường, thầy cán bộ tổ chức nói riêng với tôi: «Sắp tới, em chuyển ra dạy trường Hiệp Cát nhé. Sang năm, thầy sẽ cho em ra hẳn trường Tiền Phong». (Trường Hiệp Cát gần huyện hơn trường tôi nửa ngày đi bộ. Còn trường Tiền Phong nằm sát đường 48, nếu về nhà, tôi chỉ việc ra cổng trường vẫy xe khách là xong.) Rồi thầy cười : «Hắn- chỉ thầy giáo cấp 3 nội trú -  là bạn thân của thầy đấy. Tốt tính lắm. Em không yêu là dại.»
   Tôi cũng cười và bảo:«Có duyên mới đến được với nhau thầy ơi!»

   Hôm trước, với trò chơi AI LÀ TRIỆU PHÚ mà tôi đưa vào chương trình câu lạc bộ nhân dịp kỷ niệm 84 năm thành lập Hội LHPN VN, cô giáo trẻ 22 tuổi loay hoay điền từ còn thiếu vào những  tục ngữ, thành ngữ quen thuộc, mất 3 sự trợ giúp mà vẫn không vượt qua 5 câu hỏi đơn giản ban đầu. Mọi người bảo : Nó còn trẻ, thiếu vốn sống.
   Ngày xưa 22 tuổi, tôi tự thấy mình đã trưởng thành nhiều lắm. Thế mới biết, những gian khổ, khó khăn trên đường đời, những va đập đến bầm dập, đến méo mó cuộc sống đâu chỉ là điều không may mắn ?
                             Quỳ Hợp, 29/10/2014