Mời bạn cùng chia sẻ với blog HƯƠNG NGÀN của Nhật Thành.

Thứ Bảy, ngày 01 tháng 8 năm 2015

PHƯỢNG VÀ VE

                                 Nhật Thành - Thơ cho thiếu nhi
                                      

     “Mẹ, mẹ ơi ! Con biết
       Vì sao khi hè về
       Không gian đầy tiếng ve
       Còn Phượng thì rực đỏ.”
                     Vuốt tóc mềm óng ả
                    Mẹ bảo: “ Nói nghe nào!”
                   Ghé tai mẹ thì thào
                    Bé nói điều bí mật:
                 “ Vì Phượng kia chăm học
                     Lại luôn biết nghe lời
                    Trong suốt chín tháng trời
                    Gom đầy mười đỏ chót!
     Còn Ve – vì lười nhác
     Nên thiếu điểm nhiều môn
     Cô bảo hè phải  ôn
     Sang năm còn thi lại    
    Thế là ve đành phải
    Suốt mùa hè ve…ve…”


Thứ Tư, ngày 29 tháng 7 năm 2015

CÂY RAU NGÓT.

                                               
  Đứng nơi góc vườn, nhưng nó vẫn xanh tốt, vẫn mơn mởn. Dễ hiểu thôi, ngày ngày nó  cần cù, chăm chỉ tích góp dinh dưỡng từ mẹ Đất để lớn lên. "Cùng trong một mảnh vườn, đứng chỗ nào chẳng được, miễn là có ích"-  Nó nghĩ thế, dù vẫn biết giữa vườn thì không gian rộng thoáng hơn, bạn bè ba bề bốn bên đông vui hơn, lại được chủ vun luống, bón phân, tưới tắm đầy đủ hơn. Nhưng  cây nào cũng chen chúc ra giữa thì chẳng lẽ góc vườn bỏ hoang?
  Một ngày,  cây mồng tơi gần đó vươn cái vòi mập mạp sang làm quen. "Ừ, có bạn thêm vui, trên đời này mấy ai sống cô đơn, vì như thế chẳng khác nào sống mà như chết." Nó nghĩ và vui vẻ bắt tay Mồng Tơi.
  Ngày tháng qua đi, Mồng Tơi quấn lấy Ngót không rời. Có Ngót làm chỗ dựa, Mồng Tơi thỏa sức vươn dài, mọc thêm nhiều cái vòi khác trùm kín thân Ngót. Bị  lá của Mồng Tơi dày, rộng che gần hết, những chiếc lá  mỏng mảnh, nhỏ nhắn của Ngót chỉ loe ngoe lấp ló tìm chút ánh nắng mặt trời một cách khó nhọc. Dù Ngót thuộc loại thân cứng, nhưng là rau, độ cứng của thân chỉ đủ để đứng được một mình, không phụ thuộc vào ai. Giờ có thêm Mồng Tơi, cành của Ngót oằn lả xuống. Nhiều khi cảm thấy mệt mỏi gần như kiệt sức. Nhưng Ngót không nỡ và không thể thoát ra khỏi những dây Mồng Tơi đang riết chặt lấy mình. Nó không thể vươn lên, không thể tỏa ra để có thêm nhiều lá mới như bao bạn bè khác cùng trang lứa.
  Rồi  những ngày nắng hạn đến. Nước trong ao hồ sông suối đều cạn. Giếng chỉ đủ nước dùng cho những sinh hoạt tối thiểu của chủ. Trời đổ lửa xuống mảnh vườn. Mồng Tơi cứ vàng dần, vàng dần và héo quắt đi. Rễ Mồng Tơi không đủ sức đâm sâu vào lòng  Đất để vững vàng trước sự đe dọa của Trời. 
  Mồng Tơi chết lả trên thân Ngót. Ngót buồn, trơ cái thân tàn tạ sau những ngày làm chỗ dựa cho bạn. Ngót hụt hẫng, ngơ ngác vì thương người bạn đã sớm lìa Đất về với Trời. Ngót bần thần nghĩ cuộc sống sao mà ngắn ngủi, vô thường.
  Không còn bị Mồng Tơi quấn riết, Ngót lại sức dần. Giờ thì nó đã lại đứng thẳng, những chiếc lá non lại được dịp phô ra, mỡ màng, tươi tắn! 
                                                   29/7/2015.
                                                 Nhật Thành

Chủ Nhật, ngày 26 tháng 7 năm 2015

CÁI GIÁ CỦA THẬT THÀ

   Chợ phiên họp vào sáng chủ nhật. Người mua kẻ bán tấp nập rộn ràng. Người bán phần nhiều là dân từ các bản làng xa xôi đem sản phẩm tự nuôi trồng hoặc kiếm được từ rừng ra chợ. Đủ thứ hàng:  rổ ốc khe lạo xạo bám đầy rêu, gùi rau dún non tơ còn vướng vài chiếc lá mục, bầy gà con lúc nhúc trong lồng, mấy con "lợn nít" thò cái mõm dài xọc qua lỗ rọ. Rồi ngô, rồi lạc, rồi nếp rẫy đặt bên cạnh bó mây, gùi giang, rổ mướp rừng... Tiếng Thái, tiếng Thổ, tiếng Kinh cứ chen lẫn thành một mớ âm thanh hỗn tạp.
  Nơi góc chợ, một lão dân bản mặc bộ đồ đen rộng thùng thình, quần dính đầy hoa cỏ may. Trên đầu lão là chiếc khăn thổ cẩm cáu bẩn. Chiếc túi dết thổ cẩm nhàu nhĩ quàng qua vai thõng xuống quá bụng.
  - Mua con lận cho tui ti. - Lão nói rất chậm  bằng tiếng Kinh trọ trẹ, phát âm không chuẩn. 
- Sao lợn sây sát hết thế kia?- Một người dừng lại hỏi.
- Chi mà khôông xay xát! Tui cho hắn ti chợ ba bốn phiên rồi, khôông bán tược mà!
Thấy hay hay, vài người nữa dừng lại trêu:
- Lợn còi cọc thế ai mua?  
- Ôi tời ơi, hắn có chịu ăn mô mà khôông còi? Đổ cám vô là hắn húc tổ hết cả máng, có rứa mới mang ti bán chớ!
  Giọng nói ngô ngô ngọng ngọng với câu nói thật thà đến ngớ ngẩn của lão làm mọi người đi qua dừng lại nhiều hơn.
- Này, bán thì phải khen lợn của mình, lão chê thế ai dám mua?
Lão cười hềnh hệch:
- Có răng nói rứa, khôông dám nói xai mô!
 Rồi lão cúi xuống, xịch lợn sang một bên, xách cái gùi đựng khoảng hơn chục chai mật ong ra phía trước:
- Khôông mua lận thì mua mợt oong cho tui ti. Hai tăm ngàn một chai tó.
- Một trăm rưỡi được không?
- Khôông tược mô, vợ tui hắn dặn hai tăm.
- Có phải mật ong rừng thật không?
Cái mặt ngô nghê ngước nhìn mọi người:
- Ôi tời ơi! Thợt hay khôông thì hỏi con oong, tui khôông biết mà!
Nói rồi lão cười, nụ cười thật hồn nhiên. Mọi người cũng cười, lắc đầu trước sự thật thà đến vụng dại của lão.
 Một người...hai người...rồi ba bốn người...lần lượt cúi xuống cầm chai mật ong và móc ví. Thoáng cái chỉ còn cái gùi không. 
 Khi mọi người hớn hở vì mua được mật ong rừng chính hiệu thì lão xách lợn bỏ vào gùi, biến vào đám đông đang ra vào nơi cổng chợ.
  Không ai biết rằng, mấy phút sau đó, lão "dân bản" đã hóa thân thành một gã trung niên mặc quần bò, áo phông, cưỡi trên chiếc xe máy vù một mạch về Nghĩa Đàn, nơi có hàng trăm cơ sở nuôi ong mà giá chỉ có 25 ngàn đồng một chai.
  

Phát âm của người Thái khi nói tiếng Kinh:
* vần:  ơn -> ân, ât -> ơt, ong -> oong, ông -> ôông, ây -> ay
*phụ âm: đ -> t, tr -> t, s -> x


        


Đây chỉ là ảnh chưng lên để khoe cây nhãn nhà tôi!


Thứ Bảy, ngày 25 tháng 7 năm 2015

HOA TRÊN ĐỈNH NÚI 10

  Ăn sáng lúc tám giờ. Na cố gắng nhai nuốt cho xong bữa. Từ hôm trên đường vào bù cho đến giờ, ngày ba  bữa  xôi, ngán tận cổ.
  Lại nhớ khi nhà có giỗ, mấy chị em háo hức vì sắp được ăn xôi. Đơm mâm cúng xong, số xôi còn thừa trong hông thầy vắt cho mỗi đứa một nắm bằng quả trứng vịt. Và cũng chừng đó thôi. Còn đĩa xôi trên bàn thờ chút nữa hạ xuống chỉ có thầy và mấy người khách được dùng. Đứa nào đứa nấy lo ăn dành, ăn từng chút một để nhem thèm đứa ăn hết. Thế mà nhiều hôm bị mẹ đánh đòn oan do trò nhem thèm ấy. Và xôi luôn là thứ thèm thuồng đối với chị em Na. Có lần, chị gái ước: “Giá mà được một cục xôi to bắng ấm tích nhỉ? Ăn cho chán!” Đứa em trai hùng hồn: “Xôi thì chán sao được, ăn cả thúng cũng không chán!”  Vào đây, Nga bảo: “ Mỗi lần có cán bộ huyện vào công tác, mang theo vài cân gạo tẻ, thế là hôm đó kí túc như được ăn cỗ”
-         Giờ ba chị em lên kho nhận lúa về giã, còn Lục và Lan đi tìm măng  nấu canh ột. – Chị Liên phân công  khi Na đang lúi húi rửa bát.
   Theo chế độ quy định, giáo viên vùng sâu mỗi tháng có 16 kg gạo. Xã sẽ lấy lúa nộp thuế của dân để cấp lương thực hàng tháng cho giáo viên. Ở đây, người ta gặt  cứ đầy một tay nắm là cột lại thành một bó, phơi ngay trên rẫy, khô rồi thì sắp vào gùi đem về. Mỗi gia đình có một cái kho cất lúa. Kho là một cái chòi cao, thường làm bên cạnh đường. Nếu kho của xã không còn, cán bộ sẽ đưa cô giáo đến hộ gia đình nhận lương thực. Mỗi yến lúa bông tính 8 kg lúa hạt. Mỗi yến lúa hạt tính 7 kg gạo. Hôm nay ba chị em đến kho gia đình ông Ún  nhận 50 kg lúa bông. Chị Liên bảo: “  Na cũng tập gùi cho quen, rồi còn lên rẫy với đồng bào.”  Chị Liên gùi 30kg, đi thoăn thoắt. Gùi của Nga 20kg. Na đi sau, láu táu : “Đưa mình thử!” Vừa ngoắc được quai gùi vào trán, Na loạng choạng suýt ngã. Lấy thăng bằng, bặm miệng bước. Mới đi một quãng ngắn, đầu tê rân rân, mắt hoa lên.  Na ngồi bịch xuống, chiếc gùi nghiêng chực đổ.
    Na đã từng mê mẩn đứng nhìn những người phụ nữ Thái giã gạo, thấy hết sự khỏe khoắn, mềm mại, uyển chuyển của họ. Váy quấn ngang ngực, để lộ vai trần cánh tay trần, cả thân hình nhún nhịp nhàng đều đặn. Có khi hai người, ba người cũng giã  một cối. Chày lên chày xuống thật đều, thật vui mắt. Có những chị cầm hai tay hai chày, cứ thế cụp…cùm…cụp…cùm. Những chiếc chày trơn bóng hai đầu, trơn bóng chỗ tay cầm. Nhưng bây giờ, Na là người phải thực hành.  Nâng thử chày. Nặng ơi là nặng! Nga bảo: “Lấy chày này.” Hóa ra chày bằng nhau nhưng độ nặng nhẹ khác nhau, tùy theo loại gỗ. Bước đầu tiên là bỏ lúa bông vào máng, vừa giã vừa lấy tay trở bó lúa để hạt ra hết. Na loay hoay, thật khó. Chị Liên và Nga làm thoăn thoắt. Những bó lúa nhỏ giờ chỉ còn là những bó rơm vàng óng. Lúa lại được bỏ vào cối giã. Nga và chị Liên giã chung một cối, Na giã một cối khác để tập. Na mắm môi mắm lợi  giơ chày, nhát trúng nhát trật. Mồ hôi vã ra, tay phồng rộp lên, đau đến chảy nước mắt. “Cầm chày đừng chặt quá, giữ chày cho thẳng.” Vừa làm, chị Liên vừa nhắc. “ Trước khi  dạy chữ học sinh thì phải biết vác nước, gùi lúa, giã gạo. Chịu khó mà tập đi.” Xung quanh cối của Na, gạo bắn tung tóe. Nga cười: “Gà nhà chủ hôm nay được bữa nứt diều.”
  Giã gạo về, thấy chị Lục và chị Lan đang  làm món canh ột. Đây là một trong những món ăn đặc trưng của đồng bào Thái. Măng xắt mỏng, luộc kĩ rồi xào lên với một ít cá nướng xin được của đồng bào, đổ nước vào nấu sôi. Tiếp theo là bỏ bột gạo (gạo ngâm kĩ, đổ ra cho ráo nước rồi giã thật mịn). Nồi canh sôi lục bục theo chiếc đũa quấy đều của chị. Người nấu không quen, bột gạo có thể vón cục, gọi là “sắt óc chó”, không chín được. Người không khéo léo có thể bị canh bắn lên bỏng mặt. Chị lại đổ bát sả đã giã nhuyễn vào, mùi sả thơm ấm nóng cả ngôi nhà kí túc.Chị Lan nướng xong hạt dổi, giã nhỏ rắc đều. Mùi hạt dổi béo ngậy thơm phưng phức. Bắc nồi canh xuống, chị bỏ lá lốt đã thái nhỏ và một ít ớt muỗi ( thứ ớt rừng quả nhỏ, rất cay), ít muối trắng,  rồi quấy đều. Thời gian nấu chỉ khoảng ba mươi phút, nhưng hai chị đã cặm cụi chuẩn bị nguyên liệu hàng tiếng đồng hồ trước đó.
 Chưa bao giờ Na được thưởng thức món canh ngon đến thế. Mùi thơm hấp dẫn. Canh vừa ngọt, vừa béo, vị cay ấm nồng trong dạ. Thấy Na cứ tấm tắc, chị Liên bảo:
-         Hôm sau trong bản có đám cưới hay lễ “hăng vắn”, lễ “oọc cọ” ăn món canh ột thịt gà mới sướng.
-         Họ bỏ nhiều thứ hơn mình, chị nhỉ? –Nga nói một cách hào hứng.
Chị Lục múc thêm một bát tô, cười:
-         Ngon thì ăn thêm, đỡ tốn cơm. Hôm nay còn làm được, ít hôm nữa dạy thì chịu thôi.
-         Lễ “hăng vắn”, lễ “oọc cọ” là những lễ gì?- Na tò mò.
Chị Lan im lăng nãy giờ, lên tiếng:
-         Sống lâu thì biết, cứ hỏi. 
Cả năm chị em ăn canh ột đến no, chẳng ai ăn cơm cả. Hai thầy giáo vẫn biệt tăm chẳng thấy về kí túc.
 Đầu giờ chiều có thêm một thầy nữa vào trường, sau lưng là  chiếc ba lô căng tròn. "Thầy Kỳ, giáo viên Toán Lý kiêm chủ tịch công đoàn trường." Nga nói với Na.
-         Em vào hôm qua phải không?
-         Dạ.
-         Nói Liên ghi tên vào bảng chấm cơm nhá.
Chỉ thế thôi, rồi thầy về phòng. Loay hoay một lúc đã thấy khóa cửa đi vào bản.
Đêm thứ hai ở trường, Na đang mở cuốn nhật kí để ghi ít dòng thì thấy một người lùi lũi vào phòng mình. Một thanh niên đầu tóc tốt rợp, quần ống loe lết bết quét đất. Đôi chân mốc xì với mười cái móng không thể bẩn hơn được nữa xỏ trong đôi tông Lào màu vàng cũng bẩn như chủ nhân của nó. Chẳng nói chẳng rằng, anh ta ngồi lên giường. Na vội kéo chiếc chăn bông vỏ con công thơm phức của mình quấn vào người kẻo anh ta ngồi trúng. Anh ta nhìn Na, cười cười, rồi vươn tay cầm múi chăn, kéo lại quàng lên người. “ Cho ta với, ta cũng lạnh mà!” Na hét lên: “ Không được!” rồi giật lại. Một thoáng  ngơ ngác, anh ta xoay người, bưng cả đôi chân gớm ghiếc ấy lên giường, xịch vào tận phía trong vách, nơi Na đang ngồi co rúm. Chiếc chăn bông lại bị kéo mạnh ra, anh ta quàng hẳn vào người và giữ lấy múi chăn. “ Ta một nửa, cô giáo một nửa. Chăn rộng mà!” Na đứng bật dậy, nhảy ra khỏi giường khi vừa kịp cảm nhận mùi khăn khẳn, khen khét từ anh ta xộc vào mũi.
Na hoảng hốt xô cửa chạy ra khỏi phòng. Gió lạnh thốc vào mặt ngồn ngột. Ba phòng đều có trai bản. Na lò dò theo dọc thềm đến cuối dãy nhà, chị Lan đang nằm đắp chăn ngang cổ, tay cầm cuốn sổ ghi bài hát và eo éo như  mèo ướt mưa. Thấy Na, chị  có vẻ ngạc nhiên: “Sao  lại đến đây?” Na nói rõ sự tình, chị  nghe và chỉ im lặng, thở dài.
Chị Lan vào đây đã sang năm thứ ba, nghĩa là sắp hết nghĩa vụ vùng sâu. Chị thấp béo, bộ ngực ngồn ngộn trào ra ngoài,  chiếc áo nịt ngực xem chừng quá nhỏ.  Da chị đen và tái xám. Tóc trên đầu lơ phơ, được cột túm lại một nhúm chẳng khác lông đuôi ngựa. Chị bị sốt rét nặng nên môi vốn đã dày lại thâm sì. Cằm và ngực chạm nhau, cảm giác như  không có cổ.
  Chị không nói gì thêm, Na cũng ngồi im lặng. Lâu sau, chị nghèn nghẹn:
-         Như chị, muốn có một người con trai nói chuyện cũng khó.
-         Sao chị cứ nói thế?
-         Em học sư phạm Vinh sao lên đây?
-  Chuyện dài lắm, khi nào em kể. sao các thầy cứ đi vào bản mất tăm thế chị?
Chị ngồi bó gối, nói rủ rỉ . "Thường thì đi uống rượu cần, đêm nào mà trong bản không có nhà mở vò rượu. Thời gian này  thì  đi lùng mua khỉ về nấu cao. Còn thầy Kỳ thì đi đổi hàng. Thầy mang thuốc lào, cá khô, kẹo nu-ga... vào đổi mộc nhĩ, đổi măng khô, đổi xương khỉ, xương trăn, xương hổ...Đồng bào ở đây thật thà, thầy giáo nói thì tin răm rắp. Hàng của thầy  gói thành từng gói, còn hàng của dân thì cân lên. Thầy lấy cân đĩa để cân, và bao giờ cũng trừ một lạng đĩa. Khi cân, họ chỉ  để ý kim đừng  lệch già, còn đọc mấy lạng mấy cân là việc của thầy, họ không bao giờ nghi ngờ. Có hôm, thầy cân mộc nhĩ, xướng 1 lạng, chị chủ nhà đứng ngẩn ra một chút rồi thắc mắc: “Ô, thế ra trừ bì rồi, mộc nhĩ không được lạng nào à?” Biết lỡ lời, thầy chữa: “Vì nó quá ít ấy mà. Nhưng thôi, thầy vẫn cho 1 gói thuốc lào.” Chị ta  cảm ơn rối rít, bảo thầy tốt lắm, tốt lắm!"
  Na há hốc mồm nghe chị kể, vừa buồn cười, vừa xót xa.
Chị kể tiếp: "Vào trong bản mua gà, cứ con nào to nhất, béo nhất thì bắt. To nhỏ gì cũng 5 đồng. Hôm nào không có gà to, bảo gà nhỏ thế này 3 đồng thôi. “ Ô, không được mà. Nó nhỏ thì hôm sau nó to, chưa bắt thì nó còn sống với bạn nó đó, lo gì.” Còn mua chuối thì không bao giờ nguyên nải. Cứ một đồng ba quả thì phải tách rời từng 3 quả một mà tính tiền. Cô giáo mua thì bán, không thêm quả nào hết. Nhưng xin thì cho cả buồng cũng không phân vân. Gạo thóc cũng vậy, nếu cô giáo thiếu, có thể cho cô một gùi lúa mang về mà giã. Đói cơm thì vào bản, xem trong ép còn xôi cứ thế lấy mà ăn."
 Ngồi nghe chị kể chuyện, Na nhận ra một điều, con người ta ai cũng có nhu cầu sẻ chia, tâm sự. Nhưng vì một sự mặc cảm nào đó mà họ phải tự thu mình lại như con ốc sên thu mình trong cái vỏ lạnh ngắt và khô cứng mà thôi.
-         Chị à, vậy khi nào có thể họp hội đồng được? – Na kéo đề tài về hướng mình quan tâm.
-         Phải chờ đủ giáo viên đã. Thường thì cuối tháng chín, nhưng năm nay chưa biết.
-         Là sao?
-         Nghe nói giờ vẫn chưa tìm ra người làm hiệu trưởng.
-         Ơ, hôm trước thầy hiệu trưởng ra đón bọn em vào đó thôi?
-         Thầy Thoại đã có quyết định nghỉ hưu rồi. Tuy nhiên, thầy nhận với phòng là giúp ổn định cơ sở vật chất đầu năm cho trường. Người mới vào khó có thể vận động phụ huynh làm trường được. Hôm trước thầy kết hợp ra huyện có việc rồi đưa các em vào, còn bình thường thì cử dân quân.
Ra thế. Na tò mò hỏi tiếp:
-         Thế chẳng lẽ phòng giáo dục không dự định nhân sự trước khi cho thầy về hưu?
-         Chuyện ngoài kia ai biết. Nhưng làm hiệu trưởng ở đây phải là người thông thạo tiếng Thái và phong tục của  đồng bào, không dễ đâu. Vào đây, ai cũng tính vài ba năm để ra, tội gì mà nhận làm lãnh đạo. Giáo viên địa phương chỉ có thầy Thoại có bằng cấp hai, làm hiệu trưởng hàng chục năm rồi. Còn mấy người nữa mới học xong cấp 1, đào tạo cấp tốc một năm, thậm chí  ba tháng về dạy học. Viết chữ còn sai chính tả, nói năng chưa rành mạch, làm được gì?
Na đứng dậy, bước lại cửa nhìn ra. Bản làng  đã yên ắng chìm vào giấc ngủ. Gió mùa thu lang thang trong màn đêm mênh mông.

HẾT CHƯƠNG I

Bạn đọc blog yêu mến!
Tác giả chân thành cảm ơn mọi người đã chịu khó theo dõi HOA TRÊN ĐỈNH NÚI và nhiều người đã có những góp ý quí giá cho tác giả trong suốt thời gian qua. Với cách kể chuyện theo kiểu "dung dăng dung dẻ" chắc làm nhiều độc giả nóng ruột. Theo hành trình của Na trong chương I này (từ p1 đến p10), tác giả muốn người đọc hình dung rõ về bối cảnh của NHỮNG CÂU CHUYỆN TRONG BÙ sẽ kể trong phần tiếp theo ở chương II. Nếu chương I là hình ảnh cuộc sống phẳng lặng "như mặt nước hồ thu" thì chương II sẽ là "dòng sông cuộn xoáy trong mùa lũ". Có thể nhiều bạn đọc sẽ bức xúc cho rằng, hiện thực ấy không thể chấp nhận được! Nhưng xin mọi người hiểu cho, tác giả viết HOA TRÊN ĐỈNH NÚI theo dạng hồi kí, mà hồi kí luôn tôn trọng sự thật, những gì người viết đã trải qua, đã chứng kiến. Trong chương I, hẳn mọi người đã nhận thấy nhiều chi tiết từng kể trong NGƯỜI MIỀN NÚI trước đây được nhắc lại là vì thế.
 HOA TRÊN ĐỈNH NÚI muốn nói với mọi người rằng, cuộc sống ngoài đời không phải lúc nào cũng đẹp như lời bài hát: 
" Cô giáo dạy đàn em thơ ngây
Yêu núi rừng ruộng nương quê hương
Cô giáo hiền như con nai rừng..."
  Có điều dòng sông mùa lũ đi qua đã để lại  bãi bồi phù sa màu mỡ!
  Ý định là thế, nhưng chỉ còn một tuần nữa là hết hè. Việc trường, việc nhà bộn bề, thời gian cho văn chương rất ít ỏi. (Nếu tác giả  cưới chồng nữa thì chắc là...nghỉ luôn. He he...)
Chúc và mong bà con làng ta dù có yêu anh Phây vẫn luôn nhớ về cụ già Blog!

  


  

Chủ Nhật, ngày 19 tháng 7 năm 2015

CHUYỆN THƯỜNG NGÀY.


  Tiễn anh ra đến cổng, nàng dừng lại. Anh đặt tay lên vai nàng, dặn:
- Có việc gì thì em gọi điện cho anh, đừng ngại. Nhớ chưa?
- Dạ.
-  Người ta nói, xa xôi năng đi lại cũng nên gần, gần mà ít đi lại cũng thành xa. Giờ hoàn cảnh em, mẹ con đàn bà, anh ở xa  nhiều lúc nghĩ vừa thương, vừa lo. 
 Nàng gắt:
- Thôi, em sống được mà, anh nghĩ ngợi làm gì? Về đi anh, khéo mà mắc mưa chiều đó.
  Anh phóng xe đi. 
                                                *  *
                                                  *
Chị hàng xóm kế bên, một người  nghỉ hưu mất sức mấy năm nay, lật đật chạy sang chị kế bên nữa, chị ấy về một cục (tức là về theo chế độ 176) thầm thì:
- Này, nhìn còn phong độ lắm nha.
- Ai cơ?- Một Cục hỏi.
- Thì ai nữa! - Rồi chỉ tay sang nhà nàng - đến từ lúc khoảng 12 giờ, mới về xong. Chia tay lưu luyến lắm!
- Thật a? -  Một Cục trố mắt - những hơn hai tiếng đồng hồ...hi hi...
 Chị hàng xóm kế bên nữa, đang nghỉ chờ hưu, vừa bước vào đã hỏi dồn:
- Có phải đi cái xe máy màu đen, người cao cao gầy gầy, đúng không, đúng không?
 Mất Sức xác nhận:
- Đúng rồi, người cao cao, tầm sáu mươi gì đó...
- Mặt mũi thế nào? 
- Đội mũ bảo hiểm che kín mít, có thấy mặt đâu!  Mất Sức đáp.
- Không thấy mặt mà bảo tầm sáu mươi, bà đúng là...-  Chờ Hưu kéo dài giọng.
 - Thì nhìn dáng người cũng đoán được chứ sao?- Mất Sức chống chế.
- Thôi, tuổi tác quan trọng gì - Một Cục dàn hòa vì biết hai bà này hễ nói chuyện  câu trước thì câu sau cãi nhau - vấn đề là cô giáo định thế nào?
- Còn thế nào nữa,  chuẩn bị tiền mừng đi là vừa - Mất Sức nói như đinh đóng cột!
- Này, vậy theo hai bà thì lúc trưa... thế nào nhỉ? Hi...hi...Hai đứa con cũng ở nhà mà?- Chờ Hưu thắc mắc.
- Ở nhà thì làm sao? Chỉ cần cho hai đứa mở vi tính chơi Gêm, có mà cả buổi cũng không rời mắt khỏi màn hình - Một Cục khẳng định dứt khoát.
- Ừ nhỉ, nhất là mở nhạc lên nữa, có mà động đất cũng không biết, nói chi là...hi...hi...- Mất Sức họa theo.
 Cả ba cười khúc khích. 
Rồi câu chuyện cứ râm ran, râm ran. Rằng chắc chỉ liên hoan chứ cưới kiếc gì, rằng biết đâu được, gặp đại gia thì còn cưới to hơn bọn trẻ ấy chứ, rằng có lẽ cán bộ về hưu, người ta chỉ mừng theo giá bình dân, cưới to mà lỗ à. Đề tài lại chuyển sang chuyện con cái bên ông ấy thế nào, cưới xong ở đâu. Ừ thì chắc là cô giáo bán nhà theo chồng chứ sao? Bán nhà đi là thất sách đấy, lỡ không trơn bọt ngọt lành thì mẹ con đưa nhau ở bờ ở bụi à? Hay là ông ấy đến đây ở? Đời nào đàn ông họ chịu thế! Ôi, phức tạp thât! Phức tạp thật! Chẳng thà cứ ở quách vậy có sướng hơn không!
Ba bà thở dài, y như đang bàn bạc để lo liệu việc nhà mình.
                                        *  *
                                          *
  Nàng đi từ sáng sớm, đến tối mịt mới về. Vừa tắm gội xong thì đã thấy Mất Sức sang:
- Đưa cho cô giáo quả mướp mà nấu canh. Mướp hương đấy, thơm lắm.
- Dạ, em cảm ơn chị - Nàng vừa sấy tóc vừa đáp - chắc con bé nhà em nấu rồi.
- Ừ, thì cất trong tủ lạnh, mai nấu.
Rồi chị ta ngó vào mặt nàng:
- Này, đi về à? Xa không? Ý định thế nào? Bọn tôi đang nghĩ là cô giáo phải ở lại ba bốn ngày cơ đấy.
- Chị hỏi gì mà em không hiểu?
- Cô giáo cứ giả vờ. Mà giấu làm gì! Hôm trước tôi đã thấy rồi,  còn phong độ lắm!
 Nàng lờ mờ hiểu ra. Rồi mỉm cười, nàng hỏi:
- Chị thấy ở đâu?
- Hai người lưu luyến trước cổng nhà đấy thôi, cả mấy người thấy chứ riêng gì tôi!
  Thế rồi, để tỏ ra là người luôn có trách nhiệm với cô giáo, Mất Sức bô bô tường thuật lại những ý kiến bàn luận của mọi người từ ngày hôm trước. Nàng ngồi nghe, nóng cả ruột. Trước khi ra về, người hàng xóm tốt bụng không quên dặn một câu muôn thuở:
 - Nói để cô giáo biết thế thôi, đừng trao qua đổi lại, có gì không phải lại mất đoàn kết xóm giềng cô ạ. 
 Chắc chắn là nàng sẽ không hỏi lại. Và để mọi người khỏi mất hứng, nàng sẽ không cho họ biết rằng, người đàn ông đó với nàng là con  cô, con cậu, lâu lắm rồi anh mới lên Quỳ Hợp thăm em. Và hôm nay nàng về quê làm lễ thất tuần cho cô, tức là mẹ của anh, người cuối cùng trong sáu chị em của thầy* đi về miền cực lạc!

                                             18/7/2015
                                                 NT

*Thầy: bố (cách xưng hô của một số vùng ở Nghệ An)

                                                         
    
        
  



Thứ Sáu, ngày 17 tháng 7 năm 2015

ÔNG NGUYỄN TRỌNG TẠO NÀY CŨNG THẬT LÀ...

  Tôi có một người bạn, anh ấy là nhà văn. Mấy năm trước đây tôi và anh ấy vẫn thường xuyên trao đổi  bài vở qua mail. Những vấn đề thuộc lĩnh vực văn chương là cầu nối để chúng tôi hiểu nhau hơn. 
  Một hôm, anh đưa ra đề nghị: "Anh em mình cùng xướng họa thơ cho vui, được không? Anh sẽ làm một bài, em là người họa lại hoặc nối vần cũng được" Tôi không trả lời. Thơ đối với tôi là một món cao lương mĩ vị mà tôi chưa đủ trình độ để thưởng thức nó. Nói theo dân gian, thơ hay đưa cho tôi như "cà cuống đưa cho người tịt mũi!" Trên giá, ngăn đặt những cuốn sách bạn bè tặng lại chủ yếu là thơ! Tôi đọc thơ một cách lớt phớt, không như người ta bảo, "đọc, rồi nhắm mắt lại mà nghe tim mình rung lên những nhịp khác thường". Chịu thôi! Đã không thích thơ thì làm thơ sao nổi?Vậy mà giờ anh bảo tôi xướng họa thơ với anh?
  Thấy tôi không ý kiến gì, anh lại gửi mail tiếp theo: " Em yên tâm đi, anh không dùng thơ để chinh phục trái tim em đâu!" Tôi trả lời: "Anh yên tâm đi, trái tim em không bao giờ bị chinh phục bởi thơ."
  Thế rồi lần lượt  anh gửi cho tôi những bài thơ, như Om nói, nó là quả chín trên cành, căng mọng cảm xúc. Tôi đáp lại ngay bằng những "trái thơ" xanh xanh, có khi chưa.. rụng rốn. Tôi nhớ những bài thơ của anh, còn quên ngay những bài của tôi sau khi gửi! 
  Duy có một bài tôi lưu lại trên blog, vì tôi quyết định sau bài này tôi không tiếp tục cái trò xướng họa vớ vẩn, mất thời gian này nữa. Anh gửi cho tôi bài  NGẪU HỨNG CHỢ CHIỀU bằng thể thơ lục bát, tôi ghép ngay mấy câu lục bát trả lời:
                                                   CHỢ CHIỀU
              (Nhật Thành)
Người ta đi chợ bán buồn
Tôi nay đi chợ mua luôn thúng sầu.
Chợ chiều đã vãn từ lâu
Mình tôi thơ thẩn trên cầu trông sang.
Trên trời mây trắng lang thang
Gió lay lều chợ lại càng đìu hiu.
Giá như đừng có chợ chiều
Giá chàng đừng nói những điều vu vơ...
Để tôi khỏi ngóng khỏi chờ
Khỏi mong khỏi nhớ khỏi vơ vẩn sầu
Chợ chiều...nắng tắt từ lâu
Kìa trăng vành vạnh một màu vàng tươi!
                                                      (17/12/2012)
   Tối nay lẩn thẩn đem tập thơ "Đồng dao cho người lớn" của Nguyễn Trọng Tạo ra đọc (cuốn này bác Bu tặng hôm ở Vũng Tàu), tôi trố mắt ngạc nhiên thấy có bài CUỐI NĂM NGẪU HỨNG CHỢ CHIỀU sáng tác tháng 11/1993 giống y chang bài thơ NGẪU HỨNG CHỢ CHIỀU anh viết gửi tôi cuối năm 2012!
  Suy nghĩ hồi lâu, tôi lẩm bẩm: "Ông Nguyễn Trọng Tạo này cũng thật là...Sao lại đạo thơ của bạn tôi cơ chứ!"

                                                      *    *
                                                         *
  Theo yêu cầu của Om, chị đành phải lục lại những mail cách đây 3 năm để tìm bài thơ của bạn chị, và xin đính chính lại là nó không "y chang" như chị nói (lâu rồi, nhớ mang máng vậy). Bài thơ của Nguyễn Trọng Tạo viết năm 1993 (in trong tập ĐỒNG DAO CHO NGƯỜI LỚN) thì thế này:
CUỐI NĂM NGẪU HỨNG CHỢ CHIỀU
                                                                          
Nàng xưa ngán ngẩm chợ trưa.
Ta nay đủng đỉnh bán mua chợ chiều!
Vui kia giá được bao nhiêu?
Buồn này sao lại bọt bèo, nàng ơi!

Thời gian rụng úa vai người
Tìm đâu mua được nụ cười còn nguyên?
Này Lan, này Hạnh, này Duyên
Trăng non  cái lúm đồng tiền  còn không?

Lên đèn mà chợ còn đông
Ta đi tìm mãi sao không thấy nàng
Thôi đành mua lại thời gian
Tìm về chốn cũ tặng nàng ngày xưa!

Còn bài thơ bạn chị bảo "viết từ sâu tận đáy lòng gửi em" (hì, chắc là khúc dưới cùng của ruột già) cuối năm 2012 thì là thế này:
                                          
 NGẪU HỨNG CHỢ CHIỀU

Nàng xưa ngán ngẩm chợ trưa.
Ta nay đủng đỉnh bán mua chợ chiều!
Vui kia giá được bao nhiêu?
Buồn này sao lại bọt bèo, nàng ơi!

Thời gian rụng úa vai người
Tìm đâu mua được nụ cười còn nguyên?
Này Hồng, này Hạnh, này Duyên
Trăng non  cái lúm đồng tiền  còn không?

Giá như nàng vẫn chưa chồng
Và tôi vẫn cứ “phòng không” dãi dầu
Bây giờ mới biết, còn đâu… 
Chợ chiều… ngẫu hứng đôi câu ấm lòng!


                                        
  

Thứ Tư, ngày 15 tháng 7 năm 2015

HOA TRÊN ĐỈNH NÚI 9

  Gần sáng, Na chợt thức giấc vì những âm thanh rộn ràng khua động núi rừng. Thậm... thình! Thậm... thình! Na mở mắt nhìn ra. Trời đang tối, sao vẫn lấp lánh như những mảnh pha lê vỡ bắn tung tóe trên nền xanh mênh mông. Tiếng chày giã gạo cứ rộn ràng, cứ râm ran, cứ nhặt khoan như một dàn nhạc. Và theo  âm thanh tiếng chày, không gian bừng sáng dần. Đã nhìn thấy  những ngọn núi mờ xa trong làn mây bảng lảng. Tiếng chày thưa dần, thưa dần rồi im hẳn. Lòng Na lại  trỗi dậy những cảm xúc khó gọi thành tên. Có cái gì như là sự ngọt ngào, êm ái. Có cái gì như là sự trong trẻo mến yêu. Có cái gì như là sự tinh khôi, mới mẻ. Na bật dậy, mở cuốn nhật kí, ghi lại mấy dòng:
Màn đêm xuống, bóng đen tràn mọi lối
Khiến cho ta không nhìn thấy đường đi
Tiếng chày khua đâm thủng màn đen ấy
Ánh ban mai trở dậy tức thì!
   Phòng bên, Nga gọi sang, giọng ngái ngủ:
- Lò mò dậy sớm thắp đèn làm gì vậy?
- Ờ...Na dậy đọc sách.
- Sách với chả vở, ngủ đi!
- Nga này...
- Ừ.
- Mấy người lính đồn ấy...
- Ôi chà, họ nghịch như quỉ ấy mà, chấp gì. Một bọn đười ươi!
- Nhưng...
 Chị Lục chếch phòng bên gắt:
- Hai con ranh, im cho người ta ngủ!
Na lặng lẽ gấp cuốn sổ, cất vào túi. Trời đã sáng rõ. Nga đứng trước cửa với ba ống bương cao bằng đầu người:
- Thôi, ra suối đánh răng rửa mặt. Na chưa quen thì vác một ống, Nga hai ống.
-  Vác a?
- Vác nước, nàng ạ. Buổi sáng nước mới sạch.Vác nước về dùng trong ngày.
  Hai đứa theo đường mòn đi ra suối, sương đêm ướt lạnh bàn chân. Ngọn gió trong lành mơn man trên làn da làm Na thấy thật dễ chịu.
 Dòng suối trong văn vắt, nhìn thấy cả một thế giới đá cuội đủ hình thù dưới nước. Con suối này đổ ra sông Chu, con sông lớn bắt nguồn từ Lào, rồi gặp sông Mã tại ngã ba Giàng ở Thanh Hóa. Người dân ở đây gọi sông Chu là Nậm Sam. Nga nhặt một viên đá dẹt, nghiêng người ném trên mặt nước. Đá lướt êm, nhảy từng quãng sang tận bờ bên kia, để lại những vòng tròn loang dần, loang dần trên mặt nước vốn đang rất yên tĩnh. Đánh răng rửa mặt xong, Nga rủ:
- Thôi, về làm gì vội, lại đàng kia ngồi chơi đi.
 Hai đứa ngồi trên phiến đá lớn, sạch và nhẵn. Dưới mặt nước, lóc bóc  cá quẫy đuôi; trên cành cây, ríu ran chim ca hát. Một buổi sáng trong veo.
- Lúc tối đã sắp khóc chưa? Nga cười.
- Không khóc, nhưng mà tức chết đi được. Lính tráng gì mà ăn với nói ...
- Bọn nó chủ tâm trêu đấy, may mà tên Thánh hay tự ái nên rút nhanh, còn tên Diện, tên Hùng kia a, đùa dai lắm, ta càng khùng, bọn nó càng trêu, các cô gọi hai tên ấy là hai con đười ươi. Khi nào cũng nhăn răng ra mà cười. Bọn nó suýt soát tuổi mình cả nên cứ xưng ngang thôi, không anh iếc gì hết. Nói năng loẹt choẹt thế, nhưng mà tốt bụng. Na biết không, năm ngoái mình mới vào còn phải khóc với bọn ấy đấy.
- Mạnh mồm như Nga mà khóc?
- Không, đối đáp với họ thì Nga ngán gì. Nhưng đằng này, bọn nó dùng rắn dọa.
- Eo ơi! Đùa gì mà ác thế?
- Hôm đó Nga với Duyên đi hái rau dún. Muốn hái rau phải đi xa hai cây số. Rau dún mọc nhiều ở những vùng rừng ẩm, cạnh những  khe nước nhỏ. Nó là loại cây cùng họ với dương xỉ. Ngọn mới nhú cuốn tròn lại như cái vòi voi bé xíu. Luộc chấm cũng ngon, xào cũng ngon mà làm món nộm lại càng tuyệt vời. Kí túc mình thức ăn chủ yếu là  rau dún, măng rừng. Thường thì khi trời nắng, đi quá trưa một chút sẽ đỡ vắt. Nơi nào rau càng nhiều thì vắt càng lắm. Nhất là dưới những đám lá mục, nghe động chân người, lũ vắt ngo ngoe cái vòi lên như ngửi ngửi, rồi loáng một cái, bật tách lên bắp chân, lên đùi, có khi bật lên lưng, lên cổ. Nhiều bữa về nhà thay đồ, thấy có con còn lủng lẳng no tròn nơi bắp đùi ấy.
- Ừ, ở nhà mình chủ yếu là núi đá nên hầu như không có vắt, thỉnh thoảng vào rừng chặt nứa thì mới kinh khiếp với cái loài khát máu này. Người ta thường bảo "bám dai như đỉa", nhưng thực ra vắt bám dai hơn đỉa. Còn rau dún mình chưa ăn, nhưng có thấy rồi. Mà... Nga đang kể về lính kia mà?
- Ờ, ờ, cứ chuyện nọ xọ chuyện kia - Nga cười - Hai đứa mình đi trước, bọn nó đi sau. Khi đang hái thì ba thằng lù lù đến: " Đi chỗ khác, chỗ này bọn này đánh dấu rồi!" " Rau của rừng của rú, của riêng ai?" "Không lôi thôi, đi!" "Không!" "Chắc chưa?" "Chắc!" Thế là tên Diện móc trong túi quần ra môt con rắn dài loằng ngoằng, ngóc cổ lên trông phát khiếp. Hai đứa chỉ biết chạy lên đường mòn đứng khóc. Bọn nó hái rõ nhanh, loáng cái đầy gùi. Trước khi về còn cười hề hề: " Thôi, mót lại của mấy anh cho kĩ nha, về trước đây!"  Hôm đó về muộn, nghĩ thế nào  cũng bị chị Lục càu nhàu. Ai ngờ về đến nơi thì chị Liên chạy ra khen: "Được, đi bữa đầu mà biết lo lắng thế là tốt" Hai đứa trố mắt nhìn, chị giục: "Thôi, vào rửa ráy mà ăn cơm, biết gửi rau về trước, ở lại hái cho ngày mai nữa, giỏi thật đấy!" Bữa cơm hôm đó ngon ơi là ngon.  Rau ngọn nào ngọn nấy non tơ, mập mạp. Chị Liên làm món nộm, chỉ có muối trắng với thật nhiều ớt, ăn vừa giòn, vừa mềm. Trong bữa ăn, Duyên thỉnh thoảng liếc nhìn Nga, cười tủm tỉm.
- Có thế mà cũng khen là tốt, làm đàn ông ga-lăng với phụ nữ là chuyện thường mà.
 Nga cúi xuống nhặt một hòn cuội trắng và tròn như trứng chim, vân vê trong tay rồi hạ giọng:
- Ở chốn sơn cùng thủy tận này, tình người nó quí lắm Na à. Một câu trêu đùa nhau, một cử chỉ thân tình, một sự giúp đỡ nho nhỏ hay một nụ cười thân thiện đều làm ta cảm thấy ấm lòng. Có khi cãi nhau chí chóe, nhưng không bao giờ lính và cô giáo giận nhau đâu. Các cô giáo hỏng cái khóa rương, hư cái chốt cửa hay cái chân ghế chân bàn lung lay, nhờ một tiếng là lính sửa cho. Ngược lại, thỉnh thoảng lính nhờ cô giáo đính cho cái cúc áo bị tuột, sửa cho cái lưng quần hơi rộng...thì cô giáo cũng sẵn lòng. 
 Na nhìn bạn, lúc này không phải là một Nga tếu táo, nghịch ngợm nữa mà là một cô gái trầm lặng, suy tư, ánh  mắt mênh mang nhìn dòng suối đang lững lờ xuôi  về sông lớn.

  Tuy thế, những lần sau đó, Na vẫn không thể thân thiện hơn với lính đồn mỗi khi họ xuống chơi. Câu nói đêm đầu tiên:" Này, đứa nào tán đổ con búp bê kia tao mất hai con vịt" vẫn ám ảnh Na. Mà có sao đâu, cả kí túc hơn chục cô chứ ít gì, Na muốn đóng cửa phòng đọc sách thì cứ việc.
  Cho đến một hôm...
 Na và Sử đến phiên đi hái rau. Mùa mưa, cơ man nào là rau dún. Hái xong còn sớm, hai đứa dấu rau trong bụi rồi tò mò đi theo con đường mòn. Đi mãi, đi mãi…qua một con suối thì đến một bản nhỏ. “Bản gì đây mế?” “ Huồi Đừa”. Đang ngơ ngác, Na gặp Tóc Đầm  và Tóc Vểnh đi giã gạo về. “Ơ, sao xuống đây?” “ Đi chơi cho biết.” “ Thế à? Vui quá, vậy ở đó, bọn mình đi kiếm mấy quả trứng với ép xôi về ăn”. Đợi mãi… Tối mịt, hai kẻ kia mới vác về một ép xôi to tướng. “ Phải chờ họ hông xong, quạt nguội mới lấy được”. Thôi thì ăn rồi ngủ lại chứ biết làm sao. Đây là lần đầu tiên Tóc Đầm và Tóc Vểnh có người đến thăm nên vui lắm. Các bản lẻ, mọi người vẫn đi thăm nhau, riêng hai cô can tội " xấu chơi", nên chưa ai đến cả. Số là đầu năm, Tóc Vểnh mon men hỏi thầy hiệu trưởng, biết Huồi Đừa gần nhất nên rủ Tóc Đầm vội vã xuống dành phần khi người cũ chưa kịp vào. Thế là cãi nhau, thế là giận nhau. Ở cảnh bù, khôn ranh quá thì mất bạn mất bè, biết chơi với ai?
  Đâu khoảng hơn chín giờ đêm, Na đang ngủ lơ mơ bỗng thấy lấp loáng ánh đuốc. Tiếng đập cửa. Tóc Vểnh chạy ra.“ Thấy hai cô xuống đây không?” “ Hai cô nào? Không thấy!”Tiếng khóc òa lên của Nga : “ Ôi trời ơi, thế là hai đứa bị hổ ăn thịt thật rồi!” Na và Sử hốt hoảng chạy ra, cười nhăn răng. Trong ánh đuốc rập rờn, ba khuôn mặt lính cười tươi rói: "Thôi, thế là ổn! Đi năm, về bảy, tốt rồi!" Ba cô, một thầy và ba lính lại theo đường mòn, băng rừng lội suối trở về trường. Nghe bảo, khi tìm thấy gùi rau và đám cỏ bị rạp xuống (chỗ Na và Sử ngồi nghỉ), hai cô giáo chỉ biết đứng ở đường mòn vừa rung vừa khóc, thầy Bình thì đi đi lại lại gọi ời ời: "Na ơi! Sử ơi!". Chỉ có ba anh lính không kể gai góc cào rách da, không kể vắt sên bám đầy người, lùng sục từng gốc cây, men theo từng đoạn suối, nín thở tìm xem hổ có để lại cái đầu, cánh tay hay bàn chân của cô giáo không...
  Mỗi lần nhắc chuyện, Na ngượng lắm. Nhưng từ đó, Na đã nhìn các chàng lính trẻ với ánh mắt trìu mến hơn.

  Vâng, đó là chuyện về sau, còn trong buổi sáng trong veo ấy, Na lặng ngồi bên người đồng nghiệp, người bạn, người đồng hương mà ngẫm nghĩ cái tình người, tình đời qua lời tâm sự của Nga. Quả thật, Na đã vô cùng may mắn khi gặp người bạn học cùng lớp ngày xưa sau khi chia tay Yến ở bến xe. Yến sắc sảo, khôn ngoan và tinh tường; Nga hồn nhiên, vô tư mà chân chất, gần gũi. Bên Yến, Na "sáng mắt" ra nhiều điều; bên Nga, Na thấy mình được chở che, an ủi. 
- Nga này...
- Ừ.
- Sao Na thấy chị Lục và chị Liên khó gần sao ấy. Còn chị Lan thì cứ lặng lẽ, ít nói... 
-  Chị Lục đang có nỗi buồn riêng. Đáng ra năm nay chị hết nghĩa vụ đi bù. Dự định hè vừa rồi cưới chồng, nhưng bên bố mẹ người yêu chị ấy phản đối. Nga nghe loáng thoáng thế thôi, hai chị coi mình là trẻ con, không phải chỗ tâm sự.
- Còn chị Lan?
- Từ hồi học ở Tân Kì, chị ấy đã như thế. Chỉ vì hình thức...
 Na chợt nhớ đến một nhà văn nào đó đã viết, thường những người  đàn ông thất bại trong đường công danh sự nghiệp, những người đàn bà kém cỏi về nhan sắc họ không muốn giao tiếp với ai vì mặc cảm, vì thiếu sự tự tin khi đứng trước người khác. 
 Thấy vẻ mặt Na chùng xuống, Nga lại cười lanh lảnh:
- Lại buồn à? Vớ vẩn! Thôi,  múc nước mà về! 
Nga vác hai ống nước đi ngon lành, còn Na vất vả lắm mới giữ  cho ống bương trên vai không bị tuột xuống. Nước trong ống tràn ra, chảy ướt đẫm từ vai xuống tận gót chân.
(còn nữa)

  




Thứ Bảy, ngày 11 tháng 7 năm 2015

THÌ ĐÂY NÀY...

Hôm qua, chiều thứ bảy, tôi thong thả ngồi lục lại bài đăng, gặp TƯỞNG ở bản nháp, vậy là cho nó xuất bản. Giật mình nghĩ đến chuyện bà con có thể hiểu lầm sau những cãi cọ ở HOA TRÊN ĐỈNH NÚI  8 (mà thực ra ở HƯƠNG NGÀN thì mấy khi không cãi nhau, nhỉ? He he...) nên vội thu đi. Ai ngờ anh Hải Thăng đã nhìn thấy và bảo:" Chắc là có gì phạm húy chăng - Bạo miệng lắm cơ mà." Thì đây này:

TƯỞNG...

Đốt một đống lá khô
         Qua đêm rồi tưởng nguội
Sáng nay lấy tay sờ
Tàn tro còn hôi hổi!

Chỉ là một lời nói
           Tưởng buông rồi gió bay
      Ai ngờ găm buốt nhói
        Trong tim ta thế này???


   
                                  Chiều nay thong thả, ngồi "tự sướng" một cái! He he...

Thứ Năm, ngày 09 tháng 7 năm 2015

HOA TRÊN ĐỈNH NÚI 8

  Chạm bản. 
  Na thích thú nhìn những ngôi nhà sàn san sát bám dọc con đường đất rộng và bằng phẳng. Chợt thấy vui vui, nẩy ra mấy câu thơ ngô nghê:
“Ở Vinh chỉ có mấy nhà tầng
Phải qua bao kĩ sư xây dựng
Ở đây nhà tầng chen chúc đứng
Chỉ qua bàn tay của nông dân”
 Dưới chân cầu thang, những đứa trẻ trai ở truồng nhồng nhỗng, những đứa trẻ gái cũng ở trần nhưng mặc váy. Chúng tròn xoe mắt nhìn, Na giơ tay vẫy, cả mấy đứa chạy lên từng bậc thang, cười khúc khích.
   Gió  thổi lồng lộng, nắng vàng rộm trên các mái nhà lợp lá cọ. Không khí thật trong lành. Mấy phụ nữ Thái đi ngược chiều, váy quấn ngang ngực, cánh tay trần, vai trần trắng nuột nà. Sau lưng mỗi người là một cái gùi to tướng. Gặp thầy hiệu trưởng, họ dừng lại, chắp tay:
- Cò dù bò? (Có khỏe không?)
Thầy hiệu trưởng giơ tay tay đáp lễ:
- Cò dù, hấng hến nhăng cò dù bò? (Khỏe, lâu ngày không thấy, có khỏe không?)
Sau này, Na hiểu rằng, đó là câu chào hỏi cửa miệng, như là một phong tục của người Thái, dù họ vẫn gặp nhau thường xuyên. Chào xong, họ lại cắm cúi đi theo một hàng dọc, người chúc về phía trước, váy xập xòe lấp lánh những mảnh gương nhỏ phản chiếu ánh nắng mặt trờì.


 Sân trường ngổn ngang tre nứa. Những đống tranh lá cọ cao chất ngất. Một dãy  lớp học tan hoang, phên vách rách nát tả tơi, chỉ trơ lại mấy cái cọc tre chôn xuống đất, hình như là dấu tích những cái chân bàn, chân ghế còn sót lại sau ba tháng hè làm chỗ nghỉ ngơi cho đàn trâu bò thả rông của bản.

Khu kí túc là một dãy nhà tranh, lá cọ còn tươi mới, phên vách  hăng hắc mùi tre nứa. Cỏ ngập sân, phân trâu phân bò choe choét lõng bõng nước. Cả dãy nhà vắng hoe. Lát sau, một chị thấp đậm chạy ra, thái độ chẳng  vui cũng chẳng buồn, hỏi cộc lốc:
- Vào trưa thế? Cơm trong bếp đó nha. Mọi người đi bản cả rồi.
Nói xong lại biến vào phòng, cánh cửa liếp ụp lại.
- Nghỉ một lát, Nga đưa các cô ra suối tắm rửa rồi ăn cơm. Thầy về nhà đã nhé.
Thầy hiệu trưởng nói xong, rảo bước ra cổng. Một nỗi buồn len vào lòng Na, nó cứ lớn dần lên, xâm chiếm và xua tan mọi cảm xúc tươi vui, trong trẻo vừa có được từ khi nhìn thấy cảnh nương rẫy, làng bản. Quạnh quẽ, hiu hắt đến thế này ư? Tẻ nhạt, chán chường đến thế này ư?Trước đây Na từng hình dung ngày đầu mình đến trường trong chiếc áo trắng tinh, chiếc quần lụa mềm mại đen nhức, đôi guốc cao, mái tóc mượt mà thả xuống ngang lưng... Na đi giữa sự quấn quýt ríu ran của các em học sinh. Rồi Na cười luôn miệng, trả lời luôn miệng những câu hỏi làm quen của các em, của đồng nghiệp.  Trên đường vào bù, Na vẫn nghĩ đến cảnh các em học sinh chạy ùa ra đón các cô giáo mới, rồi các anh chị trong kí túc cũng chạy ra tay bắt mặt mừng, hỏi han rối rít.Thế mà...Na không thể nén nổi tiếng thở dài. Có gì đó như là sự tủi hờn, là sự cay đắng đang tích tụ trong lồng ngực. Na cố hắt ra theo tiếng thở dài nhưng lại thấy nghẹn nơi cổ họng. Tóc Vểnh ngồi bệt xuống đất, chống hai tay ra phía sau, ngẩng mặt lên trời:
- Ôi chao ơi là đời!
Tóc Đầm ứa nước mắt:
- Đây mà là trường học ư?
Trong lúc đó, Nga xăng xái lôi mấy túi đồ trong góc phòng ra, liến thoắng:
- Này, của ai đến nhận mau, nguyên sơ-ri, không hề ướt nhé. Mấy anh dân quân này đi đường tắt nên chắc đến từ đầu giờ chiều qua. Họ đi thôi, mình mà đi, lơ ngơ lạc trong rừng thì có mà sống với khỉ. Hi hi..Thôi, soạn đồ mà đi tắm mấy nàng!
  Quay lại thấy ba đứa như kẻ thất trận, Nga cười khanh khách một tràng rồi bảo:
- Sao mà như mất sổ gạo cả thế? Buồn quái gì! Rồi quen cả thôi. Năm ngoái vào trường Nga cũng vậy đấy, giờ thì quen rồi. Thôi, dậy!
  Na uể oải soạn đồ, cả mấy đứa đi ra suối.
 Bữa cơm tối cũng chỉ có năm người. Thêm hai chị đi bản về nhưng Tóc Vểnh và Tóc Đầm lại xuống bản lẻ từ chiều. 
- Thế không chờ các thầy về ăn à? - Na hỏi.
- Ôi chà, về khi nào ăn khi đó, biết có về không mà chờ? - Chị Lục làu bàu.
- Không chờ thì ...
- Thì cái gì? - Nga cười - Mấy cha đi bản, gặp rượu cần thì sà vô, uống xong rồi ở lại ki khầu giám, say thì non giám. 
  Thấy Na tròn mắt, Nga tiếp:
- Ki khầu giám là ăn cơm thăm, tức là ăn với gia đình. Non giám là ngủ thăm, tức là ngủ với gia đình, ở Quỳ Hợp mà mấy tiếng đó cũng không biết!
- Thì mình ở gần người Thổ chứ có gần người Thái đâu! - Na nhìn ra ngoài sân, tiếp- Trường lớp thế này, khi nào mới vào học được?
- Còn lâu. Sang tháng mười mới học. Giáo viên cũng đã vào hết đâu mà dạy. Ở đây làm được kí túc rồi, chứ mấy cô bản lẻ còn phải ở nhờ trong nhà dân ấy.
- Thế vào làm gì cho sớm?
- Không vào thì ai đi vận động học sinh đến trường? Có khi còn phải vào tận trong nương rẫy gọi chúng về đấy nàng ạ. 
- Thôi, ăn đi kẻo tốn dầu - Chị Liên gắt - cứ vào đây là được rồi, đến tháng nhận lương, lắm chuyện.


 Na ngồi bó gối trên giường, không khóc mà nước mắt cứ giàn giụa. Na không thể kể với thầy, để thầy vẫn được tự hào nói với con gái, rằng con giỏi giang thế, con sẽ được trọng dụng, dù là làm việc gì, ở đâu chăng nữa. Na cũng không thể tâm sự với mẹ, chắc chắn mẹ sẽ rên rỉ một cách xót xa, rằng mẹ đã bảo rồi, học hành lắm chữ mà làm gì, có mài chữ ra mà ăn được đâu. Con Liên, con Việt đó, học 18 tháng trung cấp thương nghiệp, nay bán cửa hàng,  nào nước mắm, nào xà phòng, nào dầu hỏa...bố mẹ cứ là dùng thoải mái. Na cũng không thể kể với Yến, cô bạn ngoa ngoắt nhưng tốt bụng ấy, vì nó sẽ kéo dài giọng mà mỉa mai rằng, nàng cứ ôm mấy câu thơ của Tố Hữu mà sống nhé:
Hỡi những người trai, những cô gái yêu
Trên những đèo mây, những tầng núi đá
Hai bàn tay ta hãy làm tất cả!
Xuân đã đến rồi. Hối hả tương lai!
nàng cứ bươn qua đèo mây, núi đá rồi dùng trí óc mình để "hối hả" tìm tương lai đi, còn tớ "xin cứ chọn việc nhẹ nhàng, gian khổ để dành người ta"...ha ha...Na lấy hai tay bịt tai lại, không muốn nghĩ nữa, nhưng hình ảnh của Ninh với vẻ mặt đắc thắng hiện ra: " Anh nói với em rồi đó thôi, một kẻ có tiền như anh, ở thời đại này cưới tiên còn được, cô giáo như em là cái thá gì? Rồi em sẽ phải hối hận, chắc chắn thế!" Na trùm chăn lại, rấm rứt khóc.

  - Ê, lục mè, nọong xáo ời. (Ê, dậy đi, em gái ơi)
 Na nằm im, giả vờ ngủ. Chiếc chăn bông bị kéo tuột, Na hốt hoảng ngồi dậy. Hai ba bóng người mặc quân phục lố nhố:
- Dậy đi, sao ngủ trước gà thế?
Na ngạc nhiên khi nghe giọng Diễn Châu, vùng miền biển hơi nặng. Hóa ra hôm nay là tối thứ bảy, lính đồn biên phòng được tự do đi chơi. Na thoáng mừng vì nghĩ có người để nói chuyện, cô xịch sát vào góc giường, lí nhí:
- Mời...mọi người ngồi chơi.
Ba người lính cùng ngồi , tấm liếp giường oằn xuống. 
- Mới toe loe hả? 
- ...
- Thằng này nó hỏi mất lịch sự thế đó em. Anh hỏi này: Em mới ra trường à?
- Dạ.
- Tốt! Thế đã có người yêu chưa?
Cười ha ha, cười hô hố. Na bắt đầu thấy khó chịu.
- Chưa có thì yêu anh nhé, đừng yêu thằng này, nó vừa ghẻ, vừa hắc lào, khiếp lắm! Hế...hế...
 - Em đừng nghe nó, nó là thằng bị giang mai ấy mà. Hớ...hớ...hớ...
 Na nóng bừng mặt. Từ trước đến giờ, Na luôn giữ hình ảnh người lính trong những trang truyện, trong những bài thơ. Họ lung linh lắm, họ là hình ảnh đẹp nhất của thời đại, đến nỗi "cả năm châu chân lí đang nhìn theo " cơ mà? Chưa ai viết về người lính mà có kiểu ăn nói bỗ bã như thế bao giờ! 
 Lại một bóng nữa đứng chắn ngang trước cửa.
- Thằng kia, vào thì vào, ra thì ra, đứng nhìn gì thế?
- Cứt một bãi, chó cả bầy, vào làm gì! Nghe nói có ba cô mà sao không thấy. Vừa nói, anh ta vừa lững thững đi vòng ra phía trước.
- Hô...hô...hô..."Em như cục cứt trôi sông/ Anh như con chó đứng trông trên bờ". Thơ anh đấy, hay không em?
Đến nước này thì Na không thể chịu nổi nữa, cô hét lên:
- Mấy người ra khỏi phòng tôi ngay!
- Ơ hay, em đuổi bọn anh đấy à?
- Mấy người chẳng đáng làm anh, đi ra ngay!
- Hả? Sao hả? Nóng tính thế cô em búp bê?
 Môt người đứng dậy:
- Thôi, sang phòng em Nga vui hơn, kiêu bỏ mẹ...
  Na chẳng còn khóc được nữa. Cô rụng rời hết cả chân tay. Đầu óc  trống rỗng, không đủ sức để nghĩ gì. Phía dãy trước, phòng Nga lại ầm ĩ. Nói oang oang. Cười hô hố. Đấm lưng thùm thụp. Phát đùi đen đét...
- Này, đứa nào tán đổ con búp bê kia tao mất hai con vịt!
- Chắc không?
- Ngoắc tay.
Na cười cay đắng. "Giá của mi giờ là hai con vịt đấy, nhớ chưa?" Na tự nói với mình trong đêm trằn trọc đầu tiên chính thức sống cảnh ở bù.
(còn nữa)
Đây là ả Hoe trong phóng sự Ả HOE RA PHỐ của Tan 262, người mà anh Salam ôm thương ủ nhớ lâu nay. Hôm ở SG, anh Salam :
 Nghe tiếng cười em trong điện thoại
 Cầm lòng không đặng, đội mưa đi"
(vì HƯƠNG NGÀN không cài chức năng gắn ảnh vào lời còm nên NT phải đưa lên đây cho anh Salam và bà con nhìn nha)







Thứ Hai, ngày 06 tháng 7 năm 2015

CON BÉ HÀNG RAU


   Nói là chợ, nhưng thực ra chỉ một dúm người, và mỗi sáng chỉ họp trong khoảng tiếng đồng hồ nơi ngã ba giáp ranh ba xóm. Hàng hóa chủ yếu là những thực phẩm tươi sống từ các gia đình xung quanh. Một mớ tép vừa cất được lúc 5 giờ sáng, mấy búp măng vườn nhà vừa bán vừa bóc vỏ, mớ rau vặt vừa hái còn đọng sương đêm, mấy quả mướp mới cắt trên giàn nhựa còn ri rỉ nơi cuống, thùng giá trắng nõn rễ xùm xòa  như lời đảm bảo không phải ủ bằng hóa chất Trung Quốc…Rồi để tiện lợi cho những người  chỉ tranh thủ đi chợ chớp nhoáng vào sáng sớm, hàng thịt lợn cô Huyên, hàng cá biển bà Tho, hàng cá tươi o Liễu luôn có mặt phục vụ tận tình từ lúc tinh mơ.
     Hôm nay, gánh rau muống của mẹ con chị Hoan thật đắt khách. Trời nắng nóng kéo dài, những hàng rau muống khác ngọn tủn ngủn, dai nhách, vậy mà rau nhà chị Hoan ngọn nào ngọn nấy cứ mướt mát, cứ nõn nà, cứ mập mạp. Người người chen lấn, giành nhau, có người xổ tung cả tóc. Ai cũng biết, hai mẹ con còng lưng tưới vườn rau ngày hai bữa, lúc năm giờ sáng, lúc bảy giờ tối, thế thì đắt khách cũng xứng.
    Cô bé giúp mẹ tính tiền, thu tiền, rồi chạy chỗ này chỗ kia đổi tiền lẻ phụ cho khách. Nhanh nhẹn, lễ phép và vui vẻ.
 Thị cũng chen lấn quyết liệt, chọn được ba bó rau. Thị rút trong túi ra tờ một trăm ngàn, chờ để đưa cô bé phụ lại chín chục ngàn. Nhưng đợi một lát vẫn chưa đến lượt, vì hầu như ai cũng chìa tờ năm chục, một trăm ra làm cô bé phải đi đổi tiền lẻ liên tục. Chần chừ một phút, thị bỏ tọt tiền vào túi, treo ba bó rau lên xe và dông thẳng.
  Đang nằm online trên điện thoại, chợt thị giật mình vì tiếng chó sủa dữ dội.
-          Dì ơi…
Tiếng gọi ngập ngừng. Con chó lai xồ ra, nhảy dựng lên cánh cổng đã đóng kín. Con bé lùi lại một chút, gọi to hơn:
-          Dì ơi…
“Thôi chết! sao nó biết nhà mình? Giờ làm sao đây?” -Thị nằm im thin thít.- “Cứ để nó nghĩ mình không ở nhà, chẳng lẽ nó chờ được mãi?”
Con chó vẫn sủa, vừa sủa vừa thúc ầm ầm vào cánh cổng sắt. Con bé im lặng một lát rồi lại gọi. “ Sợ gì, mình ra chối béng đi là đã trả tiền, chứng cứ đâu mà đòi?”- Thị nghĩ – “ Mười ngàn bạc chẳng to tát gì nhưng giờ bị nó bảo quỵt tiền thì mang tiếng lắm. Rồi lại mất mặt với mấy mụ hàng xóm lắm điều, kiểu gì mà bọn họ chẳng um xeng lên, rằng là vợ giám đốc, rằng khoe giàu khoe có, rằng quần nọ váy kia, rằng lắc này xuyến khác, vậy mà quỵt  tiền rau của con bé nhà nghèo…”
Thị nhổm dậy, xỏ dép loẹt xoẹt đi ra:
-          Có việc gì mà mày đến đây?
Con chó thấy chủ ra thì thôi sủa, ngoắt đuôi chạy vào nằm nơi tấm đệm của nó. Con bé thò bàn tay nhỏ nhắn qua song sắt:
-          Dì ơi, cái này của dì phải không?
Thị nhìn ra. Một cái tòng teng! Thị vội sờ lên tai mình. Một bên không còn nữa! Ôi, đôi tòng teng thị mới mua năm triệu hôm trước. Chắc là bị rơi khi thị chen vào chọn rau. Thị chạy  ra mở chốt cửa:
-          Đúng rồi! Sao cháu biết là của dì? Sao cháu biết nhà dì mà vào trả?
-          Khi nãy đứng bán rau, cháu thấy dì đeo cái giống thế này, nhìn nó đẹp đẹp là! Cháu hỏi mãi mới tìm được nhà dì đấy- Cô bé cười hỏn hẻn, đôi mắt đen láy, trong veo trên khuôn mặt xạm đi vì nắng./                                                                                                                                                                        NT