Chân thành cám ơn các bạn đã đến với blogger: HƯƠNG NGÀN - Của Hồ Nhật Thành!

Thứ Hai, ngày 01 tháng 9 năm 2014

NGƯỜI MIỀN NÚI 5

Một ngày của tháng mười một âm, làng bản, núi rừng vẫn chìm trong sương mãi đến tám giờ sáng, nhưng trời không mưa. Ánh nắng đủ sưởi ấm những luống thuốc phiện trồng quanh nhà dân để  không bị cháy quắt vì sương muối. Thế nhưng học sinh mãi vẫn chưa thấy em nào đến trường. Chị Lan bảo, trong bản có đám cưới, chúng ở nhà ăn cưới cả, không đến trường đâu. Ra thế. Cứ có đám ma, đám cưới là cả bản già trẻ lớn bé đều tập trung đến ăn. Có khi kéo đến hai ba ngày, nhất là đám ma. Tí nữa đi cho biết đám cưới ở đây, chị Lan lại rủ rỉ. Tôi hỏi, nhưng họ có mời không? Cần gì mời, đến rồi người ta mời vào thôi. Đúng là đông như nhà có đám. Đàn ông tất bật với việc nấu nướng: hông xôi, luộc thịt, cắt thịt, bày mâm. Đàn bà chỉ đi vác nước rồi làm những việc vặt, còn nữa ngồi nhai trầu. Những người khác nữa không làm gì thì uống rượu cần, hô hét inh ỏi. Bọn trẻ con chạy nhảy, reo hò.
   Thấy thầy cô đến, họ kéo vào uống rượu cần. Xong hiệp rượu thì ngồi mâm. Mỗi mâm 5 người. Thức ăn bày trên lá chuối, chỉ có món thịt luộc, rồi có 5 bát con cháo lòng, một ép xôi ( ép là đồ dùng đựng xôi, đan bằng mây, rất đẹp. Người miền núi hông xôi xong, quạt cho nguội rồi bỏ vào ép, đậy lại thật chặt. Xôi để cả ngày vẫn dẻo). Ngồi vào mâm, tôi bưng bát cháo húp, rất ngọt. Mọi người cười, húp hết cháo lấy gì mà chấm? Hóa ra cháo để chấm thịt, chấm xôi. Thấy thế, một thanh niên bưng tiếp cho tôi một tô nữa, bảo cô giáo thích thì ăn đi, còn nhiều trong nồi ấy.
  Đi ăn cưới về thấy một người đàn ông lạ đang đứng ở sân. Hỏi anh có việc gì mà vào trường? Mình vào thay thầy Mạnh. Hóa ra thay hiệu trưởng à?
  Thầy Mạnh nguyên là giáo viên dạy Vật Lí ở trường nội trú, đang yên đang lành bỗng tham gia vào vụ trộm trâu của dân. Họp lên họp xuống, kỉ luật đuổi khỏi ngành thì nặng quá nên cuối cùng đẩy vào đây làm hiệu trưởng. Hôm tôi mới vào trường, thấy hiệu trưởng trong bộ dạng khô quắt, mặc chiếc áo sọc đen đỏ cũ sờn và chiếc quần nâu vải pha ni lông nhăn như lò xo, tôi cười: “ Anh nên đeo một tấm biển “Đây là hiệu trưởng” trước ngực ấy.” Giọng Quỳnh Lưu: “Mình có ham chi cái chức hiệu trưởng mô.” “ Không phải, nhưng treo thế để người ta khỏi lầm tưởng là thằng cha chăn bò.” Anh ta cười đau khổ: “ Vào đến đây rồi, hiệu trưởng hay chăn bò thì khác chi nhau?” Làm hiệu trưởng nhưng suốt ngày chỉ biết vào bản kiếm rượu uống, say ngất ngư thì loạng choạng về kí túc ngủ. Không ngủ thì biết làm gì? Giáo viên đi dạy, hiệu trưởng không dạy thì ngủ. Nghe bảo có phương án thay hiệu trưởng từ đầu năm học nhưng mãi gần hết học kì 1 mới tìm ra người.
  Thầy Nhân mới vào thay là một hiệu trưởng có kinh nghiệm, đã làm nhiều năm ở trường ngoài. Thầy bảo phải ổn định lại mọi thứ, nhất là phần chuyên môn. Ở đâu cũng phải dạy cho ra dạy, học cho ra học. Ở vùng biên càng phải chăm chút con em hơn vì liên quan đến cả an ninh, chính trị… Giáo viên lục tủ lấy giấy đóng vở soạn bài, hiệu phó lo làm thời khóa biểu…
  Thầy đi từng phòng, tìm hiểu, hỏi han tình hình. Dừng lại ở phòng chị em tôi khá lâu, tôi bảo: Lớp 9 có 7 em toàn là nam nhưng không bao giờ đi đủ. vì mỗi tháng chúng phải nghỉ ít nhất là 3 ngày để đi làm rể. Đứa nào cũng có vợ cả rồi. Hỏi sao có vợ còn đi học, chúng bảo: “Học để làm cái cán bộ, lấy vợ cho hắn làm việc nhà để ta còn học chứ.” Việc đào tạo cán bộ địa phương phải như thế. Các em nữ chủ yếu chỉ học xong cấp 1 là nghỉ để lấy chồng. Còn số giáo viên địa phương, trình độ chuyên môn 7+ hè (học xong lớp 7 ngày xưa rồi học thêm 3 tháng hè kĩ năng sư phạm về dạy cấp 2)  hoặc 4+1 (học lớp 4 rồi thêm 1 năm sư phạm về dạy cấp 1), gọi là đào tạo cấp tốc, năng lực yếu, thầy nên cho giáo viên miền xuôi kèm cặp cho họ.
   Tổ chức dự giờ để khảo sát chất lượng giáo viên. Việc chưa có xưa nay.
 Giờ Học vần của thầy Hình, học bài “Nh” “Th”. Trong sách giáo khoa vẽ 2 bức tranh, bức bên trái là cái nhà, dưới ghi chữ “Nhà” có in màu chữ “nh”, bức bên phải vẽ con thỏ, dưới viết chữ”Thỏ” in màu chữ “th”. Đáng ra thầy cho học sinh quan sát tranh rồi hỏi tên sự vật, học sinh gọi đúng tên “nhà” “thỏ” thì thầy giới thiệu chữ, và từ đó nhận mặt phụ âm nh, th. Nhưng thầy giơ sách lên:
-         Đây là “nhà”, đây là “thỏ”, ghép lại ta có từ “nhà thỏ”. Nhà thỏ hay còn gọi là chuồng con thỏ. Ở miền núi thì chuồng thỏ làm bằng gỗ, nhỏ thôi, nhưng có lẽ đây là chuồng thỏ ở thành phố nên xây bằng xi măng, to lớn như nhà con người…
Rồi thầy kể về các loại thỏ, nuôi nó ăn như thế nào, thịt ra sao…Những người dự cười khúc khích, hiệu trưởng đứng dậy: “Thôi, cả lớp nghỉ, thầy giáo vào phòng họp”
Họp rút kinh nghiệm. Giáo viên phải lấy cuốn “ Sách giáo viên” có hướng dẫn cách triển khai bài dạy mà làm theo, đừng dạy “bo” như thế.
Ngày hôm sau, thầy Páo dạy toán, bài: Số 10. Hỏi đã đọc hướng dẫn dạy chưa? Đọc kĩ rồi, thuộc rồi.
 Thầy vẽ 10 vòng tròn nhỏ trên bảng rồi tô phấn vào, hỏi: “ Trên bảng có bao nhiêu chấm đen?” Học trò ngơ ngác. “Đếm đi!”, thầy giục. Học trò vẫn nhìn lên bảng nhưng không em nào giơ tay. Thầy chỉ định một em. Nó rụt rè: “Thưa thày, không có cái chấm đen nào.” Thầy khùng lên: “ Không có, không có thì cái cục c…đây à? Dốt vừa thôi chứ! “ Ơ, em tưởng cái màu ấy là màu trắng?”
 Bị phê bình, thầy cãi: “Bảo theo cái sách hướng dẫn, tôi theo đúng như thế mà!” Khổ, trong sách người ta tô mực thì đen, trên bảng thầy tô phấn thì làm sao mà đen được cơ chứ!
Dự tiếp một tiết của cấp 2, bài “Nghĩa của từ” học ở lớp 6. Thầy Nguyệt có vẻ ăn nói rành rọt hơn. Phần đầu dạy trôi chảy vì hầu như đọc khái niệm trong sách giáo khoa. Đến phần nêu ví dụ về sự phân nghĩa của từ, đáng ra phải hỏi: Nghĩa của từ “giáo viên nam” “giáo viên nữ” cụ thể hơn nghĩa của từ “giáo viên” như thế nào? Thầy lại hỏi:
-         Em nào biết, giáo viên nam khác giáo viên nữ chỗ nào?
Cả lớp im lặng.
-         Em nào biết, giơ tay lên!
Vẫn im lặng.
Thấy thầy hiệu trưởng nhíu mày, thầy đâm hoảng.
-         Hỏi thế mà không ai biết à? Không hiểu tiếng Kinh à? – mặt và tai thầy đỏ lựng lên – biết thế nào thì nói thế đó chứ!
Thấy thầy nổi khùng, một em rụt rè giơ tay:
-         Thưa thày, nói tiếng Kinh thì xấu hổ với các thày cô lắm. Em nói tiếng Thái được không?
-         Nói đi, tiếng gì cũng được!
-         Thầy giáo thì mi qui còn cô giáo thì mi hí…
Cả lớp cười, thầy cô cũng không nín được cười.
Thầy hỏi khó thế thì trò phải đưa bộ phận sinh dục ra mà phân biệt chứ sao.
Tối thứ bảy, tôi kể chuyện với “chú”, “chú” không cười, im lặng một hồi rồi bảo:
-         Xong nghĩa vụ, chuyển về Hưng Nguyên dạy nhé?
-         Nhưng “cháu” ở Quỳ Hợp mà.
-         Cây mất gốc có sống được không?
-         Được chứ, rau khoai đó, cắt ra từng đoạn trồng vẫn sống.
-         Đó là dây.
-         Cây sắn này, câu dầu trẩu này, cây xương rồng này…đầy cây chặt gốc trồng nơi khác vẫn sống.
-         Toàn lí sự cùn!
-         Cùn mà sắc chặt không đứt!
Nói vui thế thôi, tôi biết chuyển về Hưng Nguyên là điều không thể. Xong nghĩa vụ, phòng GD Quế Phong sẽ chuyển tôi về phòng GD Quỳ Hợp, bởi tôi là người Quỳ Hợp. Muốn về Hưng Nguyên phải có ô dù, có tiền. Cả hai tôi đều không.
Tôi đã từng từ chối về quê mình vì thói gia trưởng quá mức của người ấy, qua cầu ván rút rồi còn đâu?


  

Thứ Sáu, ngày 29 tháng 8 năm 2014

NGƯỜI MIỀN NÚI 4


   Tối thứ bảy, hai chị em đã trùm chăn chuẩn bị ngủ thì có ánh đèn pin loang loáng dọi  vào cửa. Tôi thoáng nghĩ đến một trai bản lết bết quần ống loe nên nằm im thin thít. Tiếng gõ nhẹ vào tấm liếp, Lan à, cho gặp đồng hương Quỳ Hợp với. Tiếng Hưng Nguyên đặc sệt. Tim tôi bỗng đập rộn ràng. Một nơi xa ngái này mà có người Hưng Nguyên? Chị Lan nhỏm dậy, để em châm đèn. Ánh đèn dầu lù mù đủ  soi rõ một khuôn mặt đen sạm, một vầng trán cao và đôi mắt lấp lánh như cười. Tôi lí nhí, chào chú ạ. Ừ, cháu ngoan ngủ sớm rứa? Dậy nhận đồng hương mồ. Chú người Hưng Nguyên ạ? Hưng Nguyên, nhưng lên Quỳ Hợp lâu rồi. Ồ, thế chú cháu mình đồng hương kép. Thế à? Cháu cũng quê Hưng Nguyên à? Chú ở xã mô Quỳ Hợp? Châu Quang. Thế à, nghe nói ông đồn trưởng cũng người Châu Quang. Bé lên đây đã quen khí hậu chưa?  Cũng tàm tạm. Thế vợ con chú cũng người Châu Quang ạ? Ừ, nhưng chú mới có hai con, chưa có vợ. Tôi cười, chú chưa vợ sao có con? Đơn giản thôi, vì chưa cưới mà. Chưa cưới thì chưa được gọi là vợ, mới là người yêu. Thế sao không cưới đi? Thì xin đơn vị về phép cưới mà họ chưa cho, bảo cứ yêu đi đã, yêu thì lâu chứ cưới có mấy chục phút, lo gì. Chỉ nói chuyện vớ vẩn thế mà vui ra phết. Cũng có thể giọng nói quê hương làm tôi cảm mến người sĩ quan này. Cũng có thể do cách nói chuyện vui vui, hài hước mà tôi thấy thích.
  Tôi tiễn khách ra đến cửa, định quay vào thì chú ấy hỏi: Đã biết câu tiếng Thái chưa? Chưa ạ. Hừm, vào đây ít nhất cũng phải biết câu chào. Khó không ạ? Không khó. Vào nhà người ta, phải hỏi ngay từ cầu thang: “Cu xì mưng, mưng xì cu bọ?” Nghĩa là gì ạ? Lâu ngày bác có khỏe không? Nói xong, chú rảo bước thật nhanh.
    Tôi ghi nhớ 6 tiếng ấy, lẩm nhẩm cho thuộc để ngày mai vào bản điều tra phổ cập.  Hai chị em lò dò bước lên cầu thang nhà trưởng bản. Thấy chủ nhà đang ngồi vót sợi mây, tôi nói thật to như một con vẹt: “ Cu xì mưng, mưng xì cu bọ?”Chị Lan trợn mắt: “Mi nói quái quỉ chi rứa?” Ông trưởng bản nhìn tôi, ngạc nhiên một thoáng rồi nhếch mép cười, chẳng nói gì.  Chị bước vào nhà: “ Cọ dụ bọ?” ( Có khỏe không?) Chủ nhà đứng dậy, đưa tay ra: “ Cọ dụ, nhăng cọ dụ bọ?” ( Khỏe, còn khỏe không?”) tôi cứ tròn mắt nhìn, câu chào này chẳng giống câu mình thuộc gì cả. Chị Lan trao đổi với trưởng bản về việc phổ cập, rồi chúng tôi đi từng nhà, ghi chép tên tuổi của các em trong độ tuổi đến trường. Vào nhà ai chị cũng lặp lại câu chào ấy và chủ nhà cũng đáp lại y hệt vậy. Tôi  lẽo đẽo theo chị, thắc mắc câu tôi nói nghĩa là sao thì chị gắt:  đừng bao giờ nói câu đó, thế thôi. Hỏi tên con, nhà nào cũng Hồng, La hay Cả ,Cáng…biết làm sao mà phân biệt? Người Thái  con gái đầu  gọi là Hồng, con trai đầu thì gọi là Cả, con thứ gọi là La,  là Cáng. Hỏi tên đi học của chúng là gì? “Ôi, cái đó thì hỏi nhà trường chứ, tên đi học các thầy cô đặt cho mà, tao có đặt đâu.” Cháu sinh ngày tháng năm nào? “Hắn sinh cùng với con tu đực này này.” Hay: “ Hắn sinh vào mùa gặt rãy đó” Có chị bảo: “ Khi sinh hắn, tao đang đi ngủ trong rãy mà, mưa quá không về được…” Cuối cùng, chúng tôi phải áng chừng lớp mà suy ra tuổi, còn thích ghi ngày tháng nào thì tùy. Học sinh học hết tiểu học chưa có giấy khai sinh, chẳng sao cả. “Đi làm rãy thì chỉ cần cái tay cho khỏe, cái chân cho vững, còn giấy khai sinh mà làm gì?” Bịa hết số liệu, bịa cả tên để có danh sách thống kê gửi ra phòng giáo dục, còn nhà trường không có sổ điểm, không học bạ, không hồ sơ lưu trữ gì hết. Việc điều tra chỉ dừng lại ở chỗ ghi số con của mỗi gia đình, còn thì rủ nhau đi mua chuối, mua đu đủ, mua trứng gà…
  Cuối cùng thì tôi cũng hỏi được nội dung “câu chào” mà chú sĩ quan đồng hương bày hôm ấy. Thế có điên không chứ! Thế có giận không chứ! Phải chửi, phải chửi  một trận cho hả dạ. Nhưng chửi thế nào đây? Tôi nghĩ ra bao nhiêu lời để trả đũa hắn ta, và rồi lại sợ hắn ta không đến nữa. Hắn cũng không phải người Quỳ Hợp. Tự nhiên bị lừa một cú giữa trời, thế có tức không cơ chứ. Nếu bây giờ ai nói với tôi câu đó, tôi chỉ cười toe toe và “ăn miếng trả miếng” ngay, nhưng lúc đó cô giáo “búp bê” mới 20 tuổi. Trong sáng lắm, mộng mơ lắm.Tôi nghĩ hắn ta ăn cắp niềm tin của tôi, hắn ta xúc phạm sự thân thiện quí mến của tôi. Vì câu ấy, tôi không dám gặp lại ông trưởng bản nữa. Ngượng không kể hết. Đồ tồi! Đồ đểu! Thứ bảy mà xuống thì biết tay tôi! Nhưng nghĩ phải chường ra mà nói chuyện với hắn cũng đã chín mặt lên rồi.
  Tối thứ bảy, vừa mới ăn cơm xong thì hắn lò dò đến. Mặt cứ hơn hớn mới đáng ghét chứ! Bảnh bao ghê, quần áo sĩ quan không thấy mặc, hắn diện một bộ quần bò áo trắng đóng thùng cẩn thận. Dù đang tức, tôi vẫn nhận ra hắn mặc bộ này trẻ hẳn so với bộ quân phục sĩ quan.
  Nghe hắn chào, tôi nguýt một cái sắc như dao lam rạch lên mặt. Hắn vẫn cười cười, coi thường thái độ của tôi. “ Hà, bữa ni đến để nghe chửi đây! Thưa …bản cô nương, kẻ hèn này đã sẵn sàng!” Trời ơi! Hắn đi guốc trong bụng mình thế à? Hắn biết hôm nay mình sẽ chửi à? Mặt tôi đỏ nhừ. Đã thế, tôi không thèm chửi, không thèm nói gì. Nói với hắn chỉ tổ phí lời! Nhưng tai hại hơn, giờ thấy hắn, bao nhiêu câu sắp sẵn mấy ngày qua tự dưng bay biến hết. Rõ ràng tôi trở thành kẻ ở thế yếu, thế bị động nên tôi phải gồng lên khỏi mất mặt trước hắn. Và suốt buổi, tôi cứ lầm lầm lì lì, cố tạo một tảng băng trên mặt.. Hắn đùa, hắn kể chuyện, hắn cười…Thì mặc hắn với chị Lan, tôi không nghe, không thấy, không biết! Sau cùng rồi hắn cũng trở giọng nghiêm túc, bảo bắt tay xin lỗi. Lãng xẹt! Tôi vẫn giữ nguyên thái độ. Hắn bảo khi nào tôi tha lỗi cho hắn thì hắn mới về. Ừ thì cứ ngồi đó, Tôi trùm chăn ngủ. Tuổi 20, tôi vẫn chưa trở thành người lớn.
  Mùa đông nơi vùng biên rét tê rét tái. Sáng ra, đã tám giờ mà sương chưa tan. Những ngọn núi phía xa phủ mây trắng xóa.Chậu nước đặt ngoài hiên đóng váng. Rửa tay, cảm giác hàng trăm mũi kim châm vào da buốt nhói. Theo lệ thường, khi ra suối đánh răng rửa mặt, chúng tôi vác theo ống bương múc nước về dùng. Đi từ suối về nhà, bàn chân tê cứng mất cả cảm giác. Trong những ngôi nhà sàn, lửa rừng rực cả đêm lẫn ngày. Hàng trăm ngọn lửa không thay thế được ông mặt trời mùa này dậy muộn nên cái rét vẫn căm căm luồn vào mọi nẻo. Thế mà học sinh đi học phong phanh một manh áo mỏng, có khi không đủ cúc.
   Ngày 22/12, đồn mời nhà trường lên giao lưu. Chương trình giao lưu gồm   múa, hát, đọc thơ.  Đồng bào ở đây phụ âm Đ thì phát âm là L. Ví dụ “đông” lại bảo là “lông”. “Đồn” thì nói là…Dù  sửa mấy, các em vẫn không chữa được. Tôi sáng tác một bài thơ và cho một em học sinh lên đọc:
                       Đồn ta đông thật là đông
Chúng cháu qua lại mà không dám vào.
Đồn ta đóng ở trên cao
Khi đón nắng sớm, khi chào hoàng hôn
Các chú ăn, ở trong đồn
Thủy chung, gắn bó còn hơn  nhà mình
Giữ cho cuộc sống yên bình
Cầm chắc tay súng nơi miền biên cương.
Chúng cháu yêu mến quê hương
Càng yêu các chú thân thương trong đồn.
Hắn dẫn chương trình, biết các cô và mọi người cười khúc khích  nhưng mặt cứ tỉnh bơ, khen bài thơ của cháu hay lắm, tình cảm lắm, các chú xúc động lắm…làm cô bé đọc thơ sướng rơn. Kết thúc buổi giao lưu, hắn gặp tôi, chìa tay ra: “Nào, thế là một đều nhé. Giỏi!” Tôi giả vờ ngạc nhiên, không hiểu, hắn nhìn sâu vào mắt tôi, thấu tận tim đen: “ Từ trước đến nay, trường chẳng có ai làm thơ cả, cháu ạ.”
  Hắn vẫn xuống chơi vào mỗi tối thứ bảy, chủ yếu là để cãi nhau cho sướng. Thực ra thì hắn chỉ hơn tôi có năm tuổi, có hai con mắt chứ vợ con gì. Một hôm, hắn đưa xuống một tờ quyết định viết bằng tay, nét chữ mềm mại thật đẹp, nội dung của tờ quyết định: căn cứ vào độ nở của mông, độ phồng của vú, nay quyết định chuyển từ “cháu” sang “em” cho các cô giáo có tên sau đây….
  Nhưng quyết định đã bị hủy sau khi kí hai phút!
  Thực ra, xưng hô thế nào có quan trọng gì, vấn đề quan trọng là vốn ngôn ngữ và hiểu biết của tôi đủ để đấu khẩu với hắn trong các lĩnh vực. Và khi còn  có người để cãi nhau, cuộc sống sẽ bớt đơn điệu, nhàm chán đi nhiều.
  


Thứ Tư, ngày 27 tháng 8 năm 2014

NGƯỜI MIỀN NÚI 3


Một chị nói nhỏ vào tai tôi: “Mi muốn không bị ai quấy rầy thì dọn sang ở với con Lan.” Tôi nhíu trán, nhìn chị. Chị giải thích: “Hồi đang học ở Tân Kì, khi cả hội đi chơi thì cử Lan trông nhà, chẳng lo đồ đạc bị mất vì chẳng ai đến cả.” Là phụ nữ, ai chẳng muốn mình xinh đẹp, nhưng trời bắt tội phải xấu thì cũng đành chịu chứ biết làm sao? Nhưng nhiều khi cũng tủi thân lắm. Chị Lan sống chân thành, hay giúp đỡ bạn bè, chỉ vì xấu quá mà thường chịu thiệt thòi. Sau này chuyển về Quỳ Hợp, ông trưởng phòng nói thẳng vào mặt chị: “Xấu như mi thì vô vùng sâu mà dạy, ở ngoài ni mà nhát học sinh à?”Chị gặp tôi, kể và khóc.
  Tôi dọn sang ở với chị. Khá yên ổn. Chỉ có điều là nói chuyện với chị nhạt phèo vì vốn hiểu biết xã hội của chị cạn cợt. Nhưng dù sao, chị vẫn là chỗ dựa cho tôi trong năm đầu tiên bước vào nghề.

  Đồng bào ở đây chủ yếu trồng lúa nếp, loại nếp rẫy hạt to và rất dẻo, bây giờ nó trở thành đặc sản đấy, nhưng hồi đó chúng tôi cứ sáng cơm nếp, trưa cơm nếp, tối cơm nếp. Tôi vốn đã không thích nếp, giờ bị tra tấn ngày ba bữa. Chỉ nghe mùi cơm là đã nhức hết cả đầu. Mọi người bảo: “Ăn đi, cố mà nuốt, chan canh vào, lùa vào miệng, lấy lưỡi lừa lừa, nuốt trướn đi, vào đến bụng rồi là ổn, “không to ngang cũng nậy dọc”. Khiếp! Có khi nuốt gần được lại bị đẩy trở ra. Phải giữ lại, nuốt tiếp! Nước mắt nước mũi thi nhau chảy. Phải ăn, không ăn nếp thì biết ăn gì?
  Nhưng muốn có cơm ăn thì phải giã gạo.
  Gạo giã bằng chày tay. Cối làm từ một khúc gỗ to, một đầu khoét cái cối tròn, còn khoảng 2 mét thì khoét như cái máng. Thao tác đầu tiên là bỏ lúa bông vào cái máng ấy, giã cho ra lúa hạt. Nếp  rẫy bám dai lắm, đạp bằng chân là không xong, phải giã thật mạnh để lúa hạt rơi ra. Sau đó bỏ lúa hạt vào cối tròn, giã tiếp cho thành gạo lứt. Bốc ra, sảy vỏ trấu đi rồi bỏ tiếp vào giã cho trắng. Nhìn phụ nữ ở đây giã gạo mới thấy hết vẻ đẹp khỏe mạnh, dẻo dai và sự mềm mại của họ. Những nhịp chày thật đều, thật khỏe, cả thân hình như nhún nhảy theo điệu nhạc. Thỉnh thoảng họ còn gõ vào thành cối nghe tiếng cụp cum thật vui tai. Bây giờ các sao hở vòng 1  gây tốn kém bao nhiêu giấy mực của các báo, còn hồi đó, phụ nữ Thái khi làm việc thường không  mặc áo. Họ kéo váy cao đến nửa ngực, vấn lại cốt để hai quả khỏi lúc lắc, rồi giã gạo, vác nước, cuốc rẫy, làm nương…Thế mà da cứ trắng mịn trắng màng.
  Phụ nữ có con nhỏ thường địu con trên lưng để làm việc. Chắc các bạn còn nhớ bài KHÚC HÁT RU NHỮNG EM BÉ LỚN TRÊN LƯNG MẸ của Nguyễn Khoa Điềm:
 “Nhịp chày nghiêng giấc ngủ em nghiêng
    Mồ hôi mẹ rơi má em nóng hổi”
Có cô giáo giảng hai câu thơ này líu lo: “ Hai câu thơ vẽ nên hình ảnh thật chân thực và cảm động: mẹ giã gạo, mồ hôi rơi trên má em, những giọt mồ hôi nóng hổi…” Thật vớ vẩn!
  Mồ hôi mẹ rịn từ trán, từ thái dương, có nhỏ thì nhỏ xuống cối gạo ấy. Bé  nằm sau lưng mẹ, trong một tấm vải cột chéo lên vai. Mồ hôi có rịn trên lưng cũng thấm vào vải, rơi sao được lên má em cơ chứ! Nhưng lưng mẹ cũng nóng lắm, má bé chín lựng, bé ngủ say sưa theo nhịp chày lên xuống của mẹ.
Bà mẹ Tà ôi của Nguyễn Khoa Điềm thật dại:
“Mặt trời của bắp thì nằm trên đồi
Mặt trời của mẹ em nằm trên lưng”
Biết con là mặt trời nhỏ của mẹ đấy, nhưng để con nằm trên lưng dưới ánh nắng thế tội con lắm! Con hứng hết nắng cho mẹ còn gì! Mặt trời của bắp sẽ nướng chín con mất thôi!  Người mẹ Thái khôn hơn. Lên đến rẫy, bé được đặt trong cái gùi và treo lên cành cây gần chỗ mẹ làm. Mẹ lấy tàu lá cọ che nắng cho con. Nghe tiếng con khóc, nếu không phải bị con kiến đi lạc nào đó cắn thì là con đã đói. Mẹ nhai nắm xôi mang theo cùng vài hạt muối bón cho con. Bé biết ăn cơm từ khi chưa đầy tháng cơ, ăn thế bé no lâu, mẹ còn có thời gian mà làm việc.
  Lại nói đến chuyện giã gạo của tôi. Lần đầu tiên cầm cái chày, tôi mới giơ lên một chút đã phải dập xuống ngay. Nặng quá! Chọn cái chày nhỏ hơn, loại chày dùng cho trẻ con, tôi giã chày trúng chày trật. Mồ hôi thi nhau tóa ra, ướt đầm cả mặt, cả lưng. Mệt. Dừng lại thở…Nhưng phải tập thôi, phải cố thôi. Đã vào đến đây rồi, cái gì người ta làm được mình cũng phải làm bằng được. Con người ta luôn phải tập thích nghi với hoàn cảnh là vậy. Tay tôi bỏng rộp lên, da bong ra từng mảng. Xòe bàn tay đỏ lòm, rớm máu. Đêm, tay đau nhức, người mỏi nhừ. Nằm trở trăn không ngủ được, tôi lại khóc. Chị Lan cằn nhằn: “ Khóc chi mà khóc, mi có đủ nước mắt mà khóc cả mấy năm không?”
  Mùa mưa ở vùng biên thật khủng khiếp. Mưa tầm tã ngày này qua ngày khác, mưa cả tuần không tạnh. Những ngôi nhà sàn chìm trong mưa. Rừng núi biến mất trong màn mưa trắng xóa. Đường vắng tanh không một bóng người, học sinh nghỉ học một tuần hay mười ngày là chuyện thường. Nằm nghe tiếng mưa âm âm, đều đều suốt ngày suốt đêm, tâm trạng ta có khi đông cứng lại, có khi tan chảy ra, có khi tã tượi …cứ bồng bềnh bồng bềnh hư thực không cảm xúc. Mọi liên lạc từ xã ra trung tâm huyện bị cắt đứt hoàn toàn. Nỗi lo thiếu muối, thiếu dầu thắp cứ tăng dần trong từng trận mưa. Đồng bào ở đây quí muối và dầu còn hơn cả máu, đừng nghĩ chuyện đi xin hay vay. Đêm kí túc đen đặc, không phòng nào thắp đèn để tiết kiệm dầu. Cũng không có ánh đèn pin lia qua lia lại của trai bản. Tiếng hát nhạc vàng của cô giáo rên rỉ trong tiếng mưa rơi. Mưa lâu quá rồi dầu muối cũng cạn. Cơm tối, mọi người thay phiên nhau cầm đuốc soi để ăn. Tàn đuốc bay cả vào nồi canh, cũng đỡ nhạt muối.
 Một người thì thầm: “Trong rương thầy Kỳ “khỏn” có chai dầu!”. Hỏi, thầy chối: “Có thì mình đã đưa cho kí túc dùng, công chi để chịu khổ thế này.” Nhân lúc thầy đội mưa vào bản đổi hàng, chúng tôi quyết định kiểm tra. Rương khóa bằng ống khóa Việt Tiệp, chịu! Nếu khóa vi so thì lấy kẹp tóc mở cũng ra. Lắc lắc, lật nghiêng lại, lật úp lên. Chẳng biết có gì trong đó mà nặng kinh khủng! Thầy về, chúng tôi nín thở theo dõi…Cá khô này, thuốc lào này, kẹo nu ga này, ảnh và thư của vợ nữa…Tất cả lấm lem mực và bốc mùi dầu hỏa nồng nặc! Thành tích của chúng tôi là làm cho lọ mực Cửu Long và chai dầu đổ ra be bét! Thầy cầm tập thư lên, thẫn thờ. Nghe bảo đêm đó thầy khó ngủ, nằm thở dài sườn sượt. Tưởng tiếc của, hóa ra là nhớ vợ. Dứt đợt mưa, thầy bảo phải ra họp công đoàn nhưng thực chất là về Nghĩa Đàn thăm cô vợ xinh đẹp và đứa con gái 2 tuổi. Chúng tôi biết chắc như thế là vì khi vào trường, mặt thầy hốc hác. Thầy mở rương, cầm tập thư của vợ xé tan tành. Thầy ném lọ mực vào bức ảnh vợ lâu nay cất dưới đáy rương. “Nó dính bầu hai tháng với tay buôn vàng – thầy kể với hiệu trưởng – và đòi li hôn. Nó bảo không hơi đâu phí hoài tuổi xuân và sắc đẹp để chờ đợi một thằng giáo viên nghèo kiết xác lại đi biền biệt trên rú trên ri.”
 Thầy dùng khóa Việt Tiệp khóa thuốc lào, cá khô, kẹo nu ga và dầu hỏa, vậy lấy gì để khóa cô vợ tuổi xuân thì mơn mởn ở quê nhà thầy ơi!

 ( Thôi, lan man rồi, hôm sau kể tiếp nhé)

Thứ Bảy, ngày 23 tháng 8 năm 2014

NGƯỜI MIỀN NÚI 2

Tôi hoảng hốt xô cửa chạy ra khỏi phòng. Gió lạnh thốc vào mặt ngồn ngột.  Bất giác tôi muốn khóc. Đến phòng thầy hiệu trưởng rồi sang phòng thầy chủ tịch công đoàn, phòng nào cũng tối thui. Tôi lại chạy qua phòng mấy cô giáo phía dãy trước. Tiếng nói chuyện rì rầm, thỉnh thoảng có tiếng cười ré lên nghe chừng thích chí lắm. Phòng nào cũng có trai bản ngồi trùm chăn cùng cô giáo. Tôi không dám vào, chỉ rón rén đi qua. Đến tận cuối dãy kí túc, nghe tiếng hát nhạc vàng khe khẽ, tôi dừng lại, ngó vào. May quá! Phòng này không có trai bản. Cô giáo Lan đang nằm đắp chăn ngang cổ, tay cầm cuốn sổ ghi bài hát thời học sư phạm và...ỉ ôi như con mèo ướt mưa. Thấy tôi, chị ấy có vẻ ngạc nhiên: “Răng đi lại đây? Đầu phòng mi không có ai chơi à?” Tôi nói rõ sự tình, chị ấy nghe và chỉ im lặng, thở dài.
Chị Lan vào đây đã ba năm, nghĩa là sắp hết nghĩa vụ vùng sâu. Chị vừa thấp, vừa xồ xề. Da chị đen, tái xám như thịt trâu luộc. Tóc trên đầu lơ phơ, được cột túm lại một nhúm chẳng khác lông đuôi ngựa. Chị bị sốt rét nặng nên môi vốn đã dày lại thâm sì. Gần như chị không có cổ, cằm và ngực chạm nhau. Nghe bảo có lần, lớp chị bị giảm sĩ số nghiêm trọng, hỏi nguyên do vì sao các em không đi học, chúng hồn nhiên: “ Cô giáo xấu lắm, không học đâu. Chờ khi nào có cô khác tới mới học.”
  Im lặng hồi lâu, chị bảo: “Rồi cũng quen cả thôi em. Ở đây, có người đến nói chuyện với là vui rồi. Ai cũng thế cả. Chỉ có chị là không  thôi, vì chị xấu...” Nghe giọng chị nghèn nghẹn, tôi chạnh buồn.
Chị hỏi:
-         Em học sư phạm Vinh răng lên đây? Ở đây chỉ có dân học Tân Kỳ thôi, 10+ 3 thì dạy cấp 2, 10+2 thì dạy cấp 1.
(Tân Kỳ cũng là một huyện miền núi Nghệ An, ở đó có trường Trung cấp sư phạm  đào tạo giáo viên phục vụ miền núi là chủ yếu)
  Tôi thắc mắc, buổi tối các thầy trong kí túc mình đi đâu hết? Đi vào bản chứ đi đâu. Thầy đi uống rượu cần, đêm nào mà trong bản không có nhà mở vò rượu. Thầy chủ tịch công đoàn thì tranh thủ đi đổi hàng. Thầy mang thuốc lào, cá khô, kẹo nu-ga... vào đổi mộc nhĩ, đổi măng khô, đổi xương khỉ, xương trăn, xương hổ...Đồng bào ở đây thật thà, thầy giáo nói thì tin răm rắp. Hàng của thầy  gói thành từng gói, còn hàng của dân thì cân lên. Thầy lấy cân đĩa để cân, và bao giờ cũng trừ một lạng đĩa. Khi cân, họ chỉ  để ý kim đừng  lệch già, còn đọc mấy lạng mấy cân là việc của thầy, họ không bao giờ nghi ngờ. Thông thường hàng đựng trong bao xác rắn mỏng thầy trừ 5 lạng bì. Có hôm, thầy cân mộc nhĩ, xướng 5 lạng, chị chủ nhà đứng ngẩn ra một chút rồi thắc mắc: “Ô, thế ra trừ bì rồi, mộc nhĩ không được lạng nào à?” Biết lỡ lời, thầy chữa: “Vì nó quá ít ấy mà. Nhưng thôi, thầy vẫn cho 2 gói thuốc lào.” Chị ta  cảm ơn rối rít, bảo thầy tốt lắm, tốt lắm!
  Tôi há hốc mồm nghe chị kể, vừa buồn cười, vừa xót xa.
Chị kể tiếp: Vào trong bản mua gà, cứ con nào to nhất, béo nhất thì bắt. To nhỏ gì cũng 5 đồng. Hôm nào không có gà to, bảo gà nhỏ thế này 3 đồng thôi. “ Ô, không được mà. Nó nhỏ thì hôm sau nó to, chưa bắt thì nó còn sống với bạn nó đó, lo gì.” Còn mua chuối thì không bao giờ nguyên nải. Cứ một đồng ba quả thì phải tách rời từng 3 quả một mà tính tiền. Cô giáo đừng nói nhân chia chi cho khó hiểu. Cô giáo mua thì bán, không thêm quả nào hết. Nhưng cô giáo xin thì cho cả buồng cũng không phân vân. Gạo thóc cũng vậy, nếu cô giáo thiếu, có thể cho cô một gùi lúa mang về mà giã. Còn đã đến vay gạo, một bát cũng phải trả, lâu không trả là đến đòi.  Nhà nào cũng làm một cái chòi, gặt lúa bông phơi khô trên rẫy rồi đem về chòi cất. Chòi lúa ngay cạnh đường, không khóa, chỉ buộc cửa sơ sài, nhưng chẳng ai lấy của ai cả. Nếu thiếu thì xin nhau, nhà còn cho nhà đã hết. Hết cả rồi thì lên rừng đào củ mài, củ nâu, hái măng mà ăn. Đợi lúa trên rẫy chín thì lại có cơm. Lo gì.
  Người miền núi khi đi đường thường theo một hàng dọc, sát mép đường, dù đường rộng cũng vậy. Người nọ nối tiếp người kia, nhìn đoàn người đi biết đường quanh hay đường thẳng. Tôi thích ngắm các mẹ, các chị đi đường, váy lấp lánh ánh nắng (trên váy họ thêu mặt trời, chim muông, hoa lá…và chỗ hình mặt trời thường được cài một mảnh gương nhỏ). Nhìn các mẹ, các chị nối nhau leo lên những nương rẫy lưng chừng trời để gặt lúa, gùi lúa về, tôi ghi lại một cách hồn nhiên:
Lúa rủ nhau lên đồi cao ngất
Bế cùng người gắng sức leo lên
Nghe lời bế, lúa về “kho lương thực”
Nó mỉm cười: người đã thắng thiên nhiên!
(Bế là cái gùi của đồng bào)
Nhưng đó là sau này, còn đêm ấy thì tôi mới chỉ “tiếp xúc” với người miền núi qua lời kể của chị Lan thôi. Tôi ngồi với chị đâu khoảng 10 giờ, nghĩ chàng trai kia đã về, tôi lò dò trở lại phòng mình.
Thật không tưởng tượng được, hắn đang nằm gọn trên giường tôi, gối đầu lên chiếc gối trắng tinh mà tôi đã kì công thêu từ hồi đang học ở trường,  chăn trùm kín mít và…ngáy khò khò! Trời ơi là trời! Thế này thì thật quá đáng! Tôi lấy cái thước tre trong góc phòng, quật mấy cái vào chân hắn. Hắn tỉnh ngủ, ló cái đầu bù xù ra khỏi chăn: “ Ơi, giặc non à”( Ôi, muốn ngủ quá) Hắn ngồi dậy, nhưng vẫn chưa có ý định ra khỏi phòng.“Về ngay! Về ngay!” Tôi hét lạc cả giọng. Thoáng cái, mấy chiếc đèn pin cùng dọi tới. Tôi lóa mắt, lấy tay che. Một giọng lơ lớ: “ Cô giáo trẻ đẹp lắm lơ. Sao buồn ngủ sớm thế? Chưa về đâu nơ!” Tôi bật khóc, mấy chị đến nói bằng tiếng Thái với hắn câu gì đó, hắn ngoan ngoãn ra khỏi phòng.
  Giũ chiếu, giũ chăn, tôi đi ngủ trong tâm trạng buồn tê tái. Trời càng về khuya càng lạnh, tôi nằm co ro không đắp chăn vì sợ cái mùi khăn khẳn ấy. Lần đầu tiên, tôi cảm nhận sự chua chát của cuộc sống chốn vùng sâu. Vì tự ái với anh mà tôi dứt khoát không thèm về dạy học ở Hưng Nguyên, nơi anh đã tìm mọi cách để xin cho tôi. Tôi vênh mặt lên, vẻ bướng bỉnh của một đứa trẻ con muốn tự khẳng định mình: “ Đi vùng cao thì đã sao? Em sẽ đi để anh thấy rằng, không có anh em vẫn sống được.” Tôi chia tay mối tình đầu nhẹ tênh như thế.Chia tay vì sự tự ái trẻ con để rồi đường sự nghiệp và hôn nhân đều rẽ vào lối u buồn.

(Hôm nay gõ đến đây thôi nhé, đi nấu cơm tối đã)

Thứ Năm, ngày 21 tháng 8 năm 2014

NGƯỜI MIỀN NÚI(1)

Hồi những năm tám mấy, tôi lên dạy học ở một trường giáp biên giới Việt – Lào. Ở đây chủ yếu là đồng bào dân tộc Thái sinh sống. Khi phát quyết định cho chúng tôi, lãnh đạo phòng có mấy lời “tập huấn” cho lũ sinh viên đang ngơ ngác nhìn đời: “ Đồng bào dân tộc vốn hiền lành, thật thà nhưng cũng rất hay tự ái. Các cô nhớ cư xử mềm mỏng, tế nhị với họ, đừng để họ phật ý. Vì như thế, việc duy trì sĩ số học sinh sẽ rất khó khăn.”
  Trường cách trung tâm huyện một ngày rưỡi đường đi bộ. Khác với những cô bạn mít ướt đang khóc tấm tức vì đau chân, vì mệt, vì nghĩ đến một tương lai xám xịt  ở một nơi vùng sâu, sâu đến tận cùng này, tôi lại thấy mình hứng khởi hẳn lên trước một vùng nơi giáp biên có nhiều điều lạ lẫm mà mình mới chỉ biết thoáng qua trong trang sách. Những ngôi nhà sàn to lớn và vững chãi, mặc dù chỉ lợp mái cọ và thưng phên nứa. Bao quanh bản, nhìn xa hơn, cao hơn, những nương rẫy mướt mát màu của lúa, của ngô. Những đường mòn lên rẫy như những sợi chỉ ngoằn ngoèo. Gió mùa thu thổi nhẹ, mang theo cái se lạnh của miền sơn cước. Tôi mở sổ tay, ghi lại mấy vần thơ đầu tiên:
“Ở Vinh chỉ có mấy nhà tầng
Phải qua bao kĩ sư xây dựng
Ở đây nhà tầng chen chúc đứng
Chỉ qua bàn tay của nông dân”
Gần sáng, sau một đêm mê mết, tôi bị đánh thức bởi râm ran tiếng chày giã gạo của đồng bào. Những nhịp chày tay thậm thình khắp mọi chốn, vọng vào vách núi  như đánh thức vạn vật trước một ngày mới đến. Tiếng chày vang lên khoảng lúc năm giờ sáng. Rộn rã, rập rình,  nhịp nhàng như tiết tấu bản nhạc rừng. Khoảng hơn sáu giờ thì tiếng chày thưa dần, thưa dần rồi ngưng hẳn. Tôi mỉm cười một mình, mở sổ ghi tiếp:
“Màn đêm xuống, bóng đen mờ mịt lối
Khiến cho ta không nhìn thấy đường đi
Tiếng chày khua…đâm thủng màn đêm ấy
Ánh ban mai trở lại tức thì.”
 Vâng, đó là những cảm nhận bước đầu về cảnh. Tôi sẽ trở lại đề tài tôi đang kể cho các bạn nghe, đó là người miền núi.
  Đêm thứ hai ở trường, khi biết có một số cô giáo trẻ mới vào, những thanh niên bản đã rủ nhau đến kí túc chơi, gọi là “Ín xáo lạ” (chơi gái lạ). Tôi kinh khiếp khi nhìn thấy một người lùi lũi vào phòng minh. Đầu tóc tốt rợp, quần ống loe lết bết quét đất. Nói không ngoa, ống quần anh ta có lẽ phải hơn một cân bùn đất, bám từng lớp cứng đơ dày cộp dưới gấu. Một đôi chân mốc xì với mười cái móng không thể bẩn hơn được nữa xỏ trong đôi tông Lào màu vàng cũng bẩn như chủ nhân của nó. Chẳng nói chẳng rằng, anh ta ngồi lên giường. Tôi vội kéo chiếc chăn bông vỏ con công thơm phức của mình quấn vào người kẻo anh ta ngồi trúng.(Hồi ấy có được cái vỏ chăn ấy là ...nhất quả đất rồi). Anh ta nhìn tôi, cười cười, rồi vươn tay cầm múi chăn, kéo lại quàng lên người. “ Cho ta với, ta cũng lạnh mà!” Tôi hét lên: “ Không được!” rồi giật lại. Anh ta nhìn tôi một thoáng, ngơ ngác rồi xoay người, bưng cả đôi chân gớm ghiếc ấy lên giường, xịch vào tận phía trong vách, nơi tôi đang ngồi co rúm. Chiếc chăn bông lại bị kéo mạnh ra, anh ta quàng hẳn vào người và giữ lấy múi chăn. “ Ta một nửa, cô giáo một nửa. Chăn rộng mà!” Tôi đứng bật dậy, nhảy ra khỏi giường khi vừa kịp cảm nhận mùi khăn khẳn, khen khét từ anh ta xộc vào mũi mình.
                                                    (còn nữa)



Thứ Sáu, ngày 15 tháng 8 năm 2014

MỘT THOÁNG THU

(Từ ngày hôm nay bắt đầu quay trong vòng xoáy của lịch, HƯƠNG NGÀN sẽ thưa đăng bài  nhé)

MỘT THOÁNG THU
Trời vời vợi biếc xanh
Mây bồng bềnh trôi nhẹ
Thảm cỏ nào mướt thế
In trên áo em tôi?

Sương mai chúm chím cười
Cúc vàng đùa chị gió
Sóng sánh trong mắt bé
Giọt nắng vàng lung linh.

Ríu rít như đàn chim
Hồn nhiên như lũ bướm
Em mang mùa thu đến
Giục trống trường reo vui!
                                                       
                                        15/8/2014

Thứ Hai, ngày 11 tháng 8 năm 2014

THAY ĐỔI???

Có tiếng xe tắt máy trước cổng. Nàng rời mắt khỏi màn hình máy tính, nhìn ra ngoài qua song cửa sổ. Một thoáng ngạc nhiên và sau đó là sự bực bội vô cớ len nhẹ vào lòng nàng. Hắn đứng trước cổng, tay ngập ngừng giơ lên rồi hạ xuống. Hắn ngó vào. Qua khung cửa, hắn đã thấy nàng. Một chút phân vân, hắn gọi nhỏ: “ Có nhà không em?”. Nàng giả tảng phớt lờ như không nghe thấy, cúi xuống gõ tiếp vào bàn phím. Chữ cái ghép loạn xạ. Nàng cố hất cái cục nặng như chì đeo bám trong lồng ngực ra ngoài qua tiếng thở dài. “Mở cửa cho anh với!” Hắn lại gọi khẽ. Con mực ngoáy đuôi, kêu ăng ẳng.
Nàng uể oải đứng dậy, chậm rãi bước ra. Hắn nhìn nàng, bối rối, lúng túng: “ Em… không đi trường à?” Nàng im lặng. Hắn thừa biết hôm nay là ngày nghỉ chuyên môn của nàng. Nàng rút chốt, hắn nhanh nhẹn đẩy cánh cổng rộng ra và dắt xe vào, nở một nụ cười cơ học. “Hừ, nàng thầm nghĩ, trước đây mỗi khi hắn phóng xe về, dù là đang rán dở món trứng trên bếp, nàng cũng phải dừng ngay lại mà chạy ra mở cổng, mà cười thật tươi và hỏi: “Bố nó đã về rồi à?” Nếu chậm một phút,  hắn sẽ trợn trừng mắt, quát: “ Làm gì mà chết gí trong đó hả?”. Dạo này hắn đã… thay đổi?
  Xách một túi quà to đặt lên bàn, hắn gãi gãi đầu: “ Anh đến gặp hai con, mua cho chúng ít quà.” Nàng vẫn im lặng. Chẳng lẽ hắn quên là giờ này bọn trẻ đang ở trường? Liếc nhìn túi quà, nàng nhận ra ngoài mấy dây sữa tươi và mấy gói bim bim là một bình sữa tắm loại nàng hay dùng: Em tắm anh yêu. Yêu đâu chẳng thấy, chỉ thấy trước đây hắn thường mỉa mai mỗi khi nàng mua về: “Tóc quăn chải lược đồi mồi/Chải đứng chải ngồi quăn vẫn hoàn quăn. Người ấy có mà tắm sữa tiên cũng thế thôi. Để tiền mua mấy chai bia còn có ích hơn! ” Thế mà giờ tự tay hắn mua đến cho nàng. Ừ nhỉ, chắc hắn đã… thay đổi?
  Nàng lặng lặng rót nước. Hăn nhìn nàng, giả lả: “ Em không dùng chè xanh nữa à? Ừ mà nước lọc cũng…tốt cho sức khỏe, nhỉ?” Nàng khẽ nhếch một bên mép, nhưng vẫn nín thinh. Hồi trước, dù bận mấy, sáng mai nàng cũng phải om cho được một ấm chè. Buổi sáng phải có cốc chè xanh nóng giòn, việc cỏn con đó mà cũng không thực hiện được thì làm vợ làm quái gì. Hắn bảo thế. Khuya, có hôm sực nhớ hết chè, nàng phải tức tốc đạp xe ra quán mua bằng được. Giờ nói thế, có nghĩa là hắn đã ….thay đổi?
  Hắn nhớm dậy, chuyển sang ngồi sát bên nàng. Nàng khẽ dịch ra. “Dạo này em sống có ổn không?” Thế nào là ổn? Nàng thầm nghĩ. Sáng dạy, chiều dạy, tối soạn bài, kèm con học. Việc nhà tranh thủ sáng sớm hoặc buổi trưa. Đồng lương công chức. Trong đầu, nhẩm phép chia cho tốt để chia cho tròn, nhẩm phép trừ cho thạo để kẻo vướng số âm. Nếu nói thế là ổn thì quá ổn! Ừ mà hắn lại biết quan tâm đến nàng nữa cơ đấy! Hắn lại muốn ngồi gần nàng nữa cơ đấy! Hắn… thay đổi thật rồi sao?
   Trước, hắn bảo hắn không muốn nhìn mặt nàng, ngồi gần nàng ăn cơm mất ngon, ngủ cùng giường với nàng mất cả hứng! Đàn bà gì mà suốt ngày cau có, bực dọc, rên la đủ thứ.Không có tiền thì đã sao? Khối người nợ nần chồng chất mà vẫn sống phởn phơ đấy thôi?  Đàn ông lang bang ở ngoài, vui vẻ tí chút thì đã sao? Nếu không có những người đàn ông như hắn thì quán xá mở ra để chưng hàng à? Những cô gái chân dài eo thon mông nở ngực đầy uốn éo cho ma nhìn à? Người ta cũng là đàn bà đấy, nhưng ở bên  người ta chẳng khác nào ở chốn thiên đường! Thiên đường của hắn  lời nói êm nhẹ như gió thu, bàn tay mát dịu như mưa xuân. Khi hắn nằm thoải mái trên ghế đệm mút,  thiên đường oàm người từ bên này sang bên kia để lấy ráy tai cho hắn, hắn cảm nhận sự hừng hực  nồng nàn từ bộ ngực tròn đầy nhưng nhức, quyến rũ đến mê hồn. Hắn đê mê, rạo rực trong từng tế bào. Bạn bè bảo: “Tỉnh lại đi kẻo hối không kịp!” Hắn cười: “ Chẳng việc gì phải hối! Từ bỏ địa ngục để đến với thiên đường thì có gì mà hối?” Thiên đường của hắn, một cô gái ở tiệm cắt tóc xinh như cô gái trong Hồng lâu mộng, và … làm tình mới tuyệt làm sao! Hắn cao hứng khoe với bạn bè ngay cả khi có mặt nàng.Ừ thì cũng có khi thiên đường giận hờn trách cứ ghen tuông nhưng trông lúc đó hắn vẫn thấy đáng yêu, đâu có kiểu mặt hầm hầm như trời động giông thế kia. Mới nhìn đã mất cả hứng!
  “Dạo này em sống có ổn không?” Hắn đã biết lo cho nàng? Hắn đang quan tâm đến nàng? Hắn thay đổi đến thế kia ư?
  Hắn nhìn sang nàng, ánh mắt vừa dịu dàng, vừa tỏ ta  biết lỗi. “ Anh muốn chúng mình cùng nghĩ lại…” Giọng hắn buồn như chiều heo may. Thoáng chốc, lòng nàng chênh chao.
Bỗng chuông điện thoại đổ dồn…Bấm phím xanh, hắn gắt: “ Đang họp!” rồi nhấn luôn phím đỏ. Màn hình điện thoại sáng nấn ná một chút rồi tối lại.
  Nàng chợt bừng tỉnh. Hắn không hề thay đổi. Chỉ có một sự thay đổi thôi: trước đây nàng là người gọi, còn kẻ vừa gọi đó đang ngồi bên cạnh hắn như nàng hôm nay. Nàng đứng dậy, giọng băng giá:

 -  Anh về đi. Tôi đang rất bận. Và nhớ đừng bao giờ đến khi tôi ở nhà!
                                                                    
                                                                                    Quỳ Hợp,  11/8/2014

Thứ Bảy, ngày 09 tháng 8 năm 2014

ĐẾN VỚI BÀI THƠ HAY

TÌNH YÊU MÙA XUÂN CỦA TRƯƠNG QUANG THỨ.
                           (Phan Văn Từ)
  Trong cái lạnh giá buốt của mùa đông đã tiềm ấn sức sống trẻ trung của mùa xuân, bất chấp giá lạnh, những cành đào khẳng khiu đã hé những nụ hoa đầu tiên, rồi hoa đào rực rỡ kéo nắng xuân trở về. Mặt người cũng hồng hào hơn trước sắc hoa, trước sự dập dìu của những cánh ong. Đã nghe thì thầm trong gió tiếng dịu dàng của hương, đã nghe tiếng nụ chồi tách vỏ làm nên cái nặng đầy của mùa xuân.
Tiếng dịu dàng của hương
Nghe thì thầm trong gió
Tiếng nụ chồi tách vỏ
Nghe nặng đầy trong cây.

Tiếng mùa Xuân đâu đây
Nghe tim mình chộn rộn
Như có lời hò hẹn
Suốt đời mãi kiếm tìm.

Có thể tiếng lòng em
Không vọng về anh nữa
Nụ hoa đào vẫn nở
Như nỗi nhớ trước thềm

Và nếu ai lãng quên
Thì mùa Xuân vẫn đến
Mùa Xuân không lỗi hẹn
Gọi tình yêu trở về…
   Nhà thơ Trương Quang Thứ đã mở đầu bài thơ Tình yêu mùa xuân của mình bằng bốn câu thơ tả cảnh thật đẹp. Những ai chăm đọc báo tết, báo xuân sẽ nhớ đến một Trương Quang Thứ với những bài thơ đẹp, trong lành như những hạt mưa xuân ấm nồng.
  Con người luôn mở rộng vòng tay ưu ái với đời này lại là một người chịu khá nhiều bất hạnh. Năm 1973, sau khi học xong PTTH, anh ở lại địa phương tham gia sản xuất, giữa buổi cày ruộng, anh vấp phải mảnh bom giặc Mỹ, chân toạc máu. Sau mấy tháng chạy chữa ở quê  nhà, bệnh chuyển sang khớp. Lại những năm tháng nằm liệt giường ở bệnh viện Việt Nam- Ba Lan, bệnh viện Việt Đức, bệnh viện Đông y trung ương, rồi cuối cùng là bệnh viện Hà Bắc. Tai đây, anh gặp chị Nị, cô gài Kinh Bắc này đã thông cảm sâu sắc với nỗi đau của Trương Quang Thứ, yêu và xây dựng gia đình với anh. Năm 1977, vợ chồng họ chuyển từ Hà Bắc về Quỳnh Lập, Quỳnh Lưu quê anh. Hai lăm năm sống với người vợ và ba cháu trai trong bầu không khí đạm bạc mà ấm cúng, văn hóa ở một làng biển cách trở với huyện lỵ và thành phố ồn ào. Hai lăm năm, với chiếc ghế đặc biệt tư thế nửa nằm nửa ngồi, Trương Quang Thứ đã làm việc và nghỉ ngơi. Với một người dị tật nặng như anh, sống được đã là một nỗ lực phi thường, nhưng ở anh, sống không phải là cứu cánh duy nhất, anh còn có hoài bão đóng góp cho đời những sản phẩm tinh thần do chính trái tim, khối óc mình tạo nên, những bài báo, trang văn, câu thơ đã ra đời từ cái ghế đặc biệt ấy. Hoài bão phi thường của anh được đền đáp: cuối năm 1999, bạn bè văn nghệ đã xúm nhau giúp anh xuất bản tập thơ đầu tay, và “Tình yêu mùa xuân” là một trong 34 bài thơ được chọn in trong tập “Tình Trăng” của Trương Quang Thứ.
Mùa xuân bắt đầu từ sự nỗ lực của cuộc sống. Cây tách vỏ, đâm chồi, nở hoa, tỏa hương, và tình yêu đã đến trong cái chộn rộn của trái tim, của lời hẹn hò đâu đó trong hoa, trong lá:
Tiếng mùa Xuân đâu đây
Nghe tim mình chộn rộn
Như có lời hò hẹn
Suốt đời mãi kiếm tìm.
   Nhà thơ đã dành trọn hai khổ thơ đầu, hay nói theo phép tính số học, nửa đầu bài thơ để tả cái “ nặng đầy” trong sinh nở của trời đất, cây trái mùa xuân. Cũng có chút “tim mình chộn rộn”, nhưng chưa hẳn là ám chỉ con người đang yêu. Chỉ đến khổ thứ 3 của bài thơ, con người mới thực sự xuất hiện. Và như các bạn đang yêu, đã yêu từng trải nghiệm: Tình yêu bao giờ cũng liền kề với trách giận. Sự trách giận ở đây lại cũng không xác định cụ thể, là lời trách của cô gái vì đã chủ động rời bỏ em nên: “ Có thể tiếng lòng em/Không vọng về anh nữa”, cũng có thể hiểu là khẳng định của anh chàng, vì em đã bỏ anh đi với người con trai khác nên: “Có thể tiếng lòng em/Không vọng về anh nữa”. Cái hay và cái đúng, cái độc đáo của câu thơ chính là ở đây. Sự đổ vỡ trong tình yêu không thể từ một phía, và trách giận trong tình yêu cũng chỉ là để yêu thương nhau hơn, vì nụ đào đã nở rồi kia, đẹp như nỗi nhớ:
Có thể tiếng lòng em
Không vọng về anh nữa
Nụ hoa đào vẫn nở
Như nỗi nhớ trước thềm
   Sự ấm nồng tươi trẻ của đất trời mùa xuân đã gắn kết tình yêu lại. Để có mùa xuân non tơ, sinh nở, cây đời đã lớn lên, vượt qua tiết hạ oi nồng ngày thu vàng lá, đêm đông lạnh giá u buồn. Quy luật của thiên nhiên là bất biến: hết hạ sang thu, qua đông là mùa xuân đến. Mùa xuân là tất yếu, đã là con người tất yếu phải có tình yêu, tình yêu là mùa xuân, điểm khởi đầu và nơi tái sinh con người:
Và nếu ai lãng quên
Thì mùa Xuân vẫn đến
Mùa Xuân không lỗi hẹn
Gọi tình yêu trở về…

  Với “Tình yêu mùa xuân”, Trương Quang Thứ đã khẳng định sự vĩnh hằng của mùa xuân tươi trẻ, sinh nở, cái tình yêu đem lại cho cả cuộc đời. Chưa có gì mới trong cấu tứ, nhưng bằng lối ví von rất gần với ca dao, bằng lối thơ 5 chữ rất gần với ví dặm Nghệ Tĩnh, bài thơ đã có nét duyên riêng và đó chính là điểm tâm giao giữa nhà thơ và nhạc sĩ. Lời thơ của Trương Quang Thứ đã cất cánh cho âm nhạc Hồ Hữu Thới, âm nhạc Hồ Hữu Thới đã chắp cánh cho thơ Quang Thứ, như hương thơm của hoa nhờ gió xuân mà tỏa lan.

Thứ Bảy, ngày 02 tháng 8 năm 2014

BIẾT LÀ...



Biết không phải ở giữa rằm
Là đêm cuối tháng âm thầm giọt mưa
Mà sao vẫn cứ ngẩn ngơ
Hình như bất chợt trăng vừa thoáng qua ?

Biết mình: cỏ dại ven bờ
Vết chân người dẫm ơ hờ vậy thôi
Mà sao vẫn níu chút hơi
Ấp làm kỉ niệm khi người đi qua?

Biết người: trời rộng bao la
Ta : con chuồn nhỏ là là bờ ao
Cánh chuồn vẫn cứ khát khao
Một ngày nắng đẹp bay vào trời xanh !

Biết lời anh nói với em
Chỉ là chót lưỡi ngọt mềm đầu môi
Mà sao lòng vẫn bồi hồi
Con tim thổn thức hát lời mênh mang...

                                   2/8/2014
                                   Nhật Thành

( Hì...định đóng blog để ...tu, nhưng lại có cảm giác như bị...tù. Khổ thế!)

Chủ Nhật, ngày 20 tháng 7 năm 2014

ĐỨA CON ĐẦU LÒNG

Mang thai hơn ba năm, chuyển dạ hơn ba tháng, giờ thì nó đã lọt lòng. Tên nó là GÓC KHUẤT.
 Hồi trước, khi tôi lần lượt được đăng mấy truyện ngắn, bạn viết bảo: Nhật Thành ra một tập truyện đi. Tôi gạt ngay. Chẳng để làm gì cả, truyện viết cho vui, loanh quanh bạn bè đọc để có cái mà tán gẫu. Nhà văn đầy ra đó. Truyện ngắn, truyện vừa,  truyện dài, tiểu thuyết nhan nhản. Bày trò chi cho tốn tiền.
 Để được kết nạp vào Hội VHNT tỉnh, kèm theo hồ sơ là những tác phẩm đã được đăng trên các báo và tạp chí. Tôi gom được 12 truyện đã đăng, nhà thơ Võ Ngọc Sơn lại động viên: Thôi, nốt công in một tập, chỉ cần tiền xin cấp giấy phép, còn tiền in trả sau. Trả sau thì cũng phải trả. Mấy người gợi ý cho vay, tôi chỉ cười: “Em không muốn nợ nần những lúc chưa cần phải nợ.”
  Vào Hội, thấy bạn bè ai cũng có sách trình làng, tôi đâm ngại. Mọi người nhìn tôi, chờ ... Tôi “Ừ thì…” rồi lửng lơ con cá vàng vậy. Mỗi lần hội họp, gặp gỡ, giao lưu, mọi người lại nhắc. Tôi “Ừ” một tiếng gọn thơm!
  Đã “ừ” rồi, nghĩa là ta đã nợ ta, ta nợ người. Nợ một lời đã hứa. Theo góp ý, tôi nên chọn 10 đến 15 truyện, đóng thành bản thảo để gửi nhà XB xin giấy phép. Chọn truyện nào trong số gần 30 truyện đã viết? Tôi bỗng trở nên lúng túng. Nản, định rút tiếng “ừ” kia lại.
 Tôi hỏi anh, anh bảo hãy gửi những truyện em định chọn cho anh, anh sẽ đọc và biên tập cho. Mừng như chết đuối vớ được cọc.
Anh đọc và nhận xét mang tính định hướng cho tôi được mấy truyện thì phải dừng lại. Công việc làm ăn của anh không suôn sẻ. Nhưng rồi, có lẽ không yên tâm khi để tôi một mình lúng túng như gà mắc tóc với công việc tự mình biên tập cho mình, anh bảo: “Tối thứ tư  anh sẽ cho học trò nghỉ một buổi để đọc tiếp cho em”. Tôi cảm động đến rơi nước mắt, nhưng tôi không nỡ…Cuộc sống, công việc đã làm cho sức khỏe, niềm tin, nghị lực trong anh hao vơi, tôi không muốn anh phải bận tâm thêm nữa.
  Nhà thơ Ngọc Sơn bảo, truyện của em in được, cũng đã đăng tạp chí rồi còn gì. Nếu không yên tâm thì nhờ người này. Nhà thơ đưa cho tôi một số điện thoại. Hình như nghe tiếng Nghệ nhẹ như …đeo đá của tôi, người ấy vui vẻ, hào hứng hẳn lên: “Anh sẽ nhắn mail của anh cho em, gửi toàn bộ bản thảo anh sẽ đọc hộ cho và gửi Nhà xuất bản hội nhà văn xin giấy phép.” Tôi gửi, và chờ…Hôm sau, người ấy nhắn tin: “Anh sẽ đọc nghiêm chỉnh cho em.” “ Thế nào là đọc nghiêm chỉnh ạ?” Người ấy gọi lại, giải thích cho tôi hiểu, đọc nghiêm chỉnh là đọc hết, đọc kĩ để nhận xét thấu đáo. Đọc không nghiêm chỉnh là chỉ đọc lướt, có khi một tập truyện chỉ đọc vài truyện, có khi một truyện chỉ đọc mấy dòng. Có nhiều giải thưởng văn học, trong ban giám khảo chỉ một người đọc nghiêm chỉnh thôi, còn lại thì không cần đọc, dựa vào nhận xét của người kia mà…viết phiếu! Trò chuyện một hồi qua điện thoại, tôi mới biết, người đang đọc nghiêm chỉnh cho tôi là một nhà văn nổi tiếng, nguyên là trưởng ban văn xuôi của báo Văn nghệ, có loạt bài phóng sự “động trời”: LỜI KHAI CỦA BỊ CAN, lại cũng từng bị án treo bút 3 năm vì truyện ngắn LINH NGHIỆM. Tôi đâm hoảng. Nghĩ mình đúng là họ nhà Liều! Điếc không sợ súng! Nhưng thôi, đằng nào tôi cũng đã giao con cho người ta định đoạt số phận. Nếu không đạt chất lượng để xuất bản cũng…đỡ nghèo! Với số tiền đó tôi có thể mua được một cái điều hòa với một lò vi sóng. Chẳng phải cũng thoát nghèo là gì?
 Mấy hôm sau, nhà văn lại nhắn tin: “ Anh đã đọc hết, các truyện đều được”  Thở phào nhẹ nhõm, nhưng tôi chẳng biết mình buồn hay vui. Nhà văn gửi qua mail cả tập bản thảo kèm theo lời tóm tắt nội dung và những nhận xét rất…ưu ái  cho nhà văn Tạ Duy Anh.
 Khoảng gần một tháng sau, nhà văn Tạ Duy Anh nhắn tin cho tôi: “ Em quí mến ơi, anh đang viết giấy phép cho em đây.” Tôi hỏi số tài khoản của Nhà XB để nạp tiền quản lí phí. Chờ 10 ngày, chẳng thấy giấy phép, tôi nhắn hỏi, nhà văn bảo: “Ơ, sao bây giờ em mới hỏi, để anh xem nó mắc chỗ nào nhé.” Sau đó nhắn: “ Bọn nó quá máy móc em ạ, tài vụ chưa nhận được tiền nên nó chưa gửi, anh sẽ bảo gửi ngay cho em.” “ Nhưng em đã gửi tiền vào tài khoản ngay hôm đó mà.” “ Kệ nó, anh sẽ bảo nó gửi giấy phép cho em là được, đừng băn khoăn.” “ Nhưng em phải biết là tiền ấy nó đi về đâu.” “ Anh thì chỉ quan tâm là em sẽ đi về đâu thôi. He he…”
   Hóa ra chữ số 0 trong tài khoản, tôi ghi nhầm số 6. Tôi vốn hay cẩn thận như thế!
 Tạ Duy Anh gọi cho tôi, nói chuyện rất hóm và bảo, hôm nào ra Hà Nội thì ghé anh chơi để anh tặng sách. Hì…được một nhà văn có tác phẩm đưa vào chương trình giảng dạy trong nhà trường tặng sách thì còn gì bằng ! Đem ra mà khoe với đồng nghiệp, với học trò chắc sướng…tê người luôn.
   Có giấy phép rồi thì in cũng đơn giản, hợp đồng qua điện thoại, mọi thông tin gửi qua mail, tôi chỉ nằm nhà và chờ…
Và giờ thì nó đã ra đời. Khuôn mặt của nó đây:

Và "bụng dạ" của nó thì thế này:

                                          LỜI GIỚI THIỆU
Cuộc sống  thật muôn màu muôn vẻ, mỗi sự kiện, mỗi hiện tượng diễn ra thường nhật quanh ta đều là mỗi đề tài cho nhà văn thỏa sức khám phá và sáng tác. Tuy vậy đã mấy ai nhặt được những hạt vàng từ trong bãi sa mạc mênh mông?
Hồ Nhật Thành là một trong những nhà văn đã làm được việc ấy. Với chị: Mỗi con người, mỗi mảnh đời. mỗi sự kiện…được nhận biết từ sự phản quang của nó thì còn những GÓC KHUẤT cần phải có con mắt tinh tường, đồng cảm soi vào để thấy và nhận biết bản chất của vấn đề. Những mẩu chuyện của chị giống như những ngọn đèn vừa đủ sáng để người đọc tìm ra những GÓC KHUẤT ấy trong cuộc sống.
Vốn là một giáo viên văn, tâm hồn luôn nhạy cảm và đa cảm đã tạo cho chị một nét tài hoa trong tình yêu văn chương, tiếp cận văn chương một cách tự nhiên, hồn hậu và đầy ắp tính nhân văn.  Bởi vậy, những câu chuyện tưởng như rất bình thường qua ngòi bút của chị người đọc luôn ngộ được một điều mới, lạ và không kém phần sâu sắc, thâm thúy, để từ đó tự ngẫm và rút ra những điều nhắc nhở con người hãy luôn hướng về cái bản ngã chân thiện mỹ của mình.
Chuyện thầy trò trong trường học, chuyện làng xóm láng giềng, chuyện bán buôn lỗ lãi nơi thương trường, chuyện những cuộc sống cao sang quyền quý với những những cuộc sống khốn khó lầm than của những người nghèo khổ, chuyện nhân tình thế thái…hàng ngày đập vào mắt chị làm cho chị không nguôi ngoai, trăn trở giữa cái lý và cái tình, giữa cái thật và cái giả, giữa cái yêu và cái ghét luôn vật vã trong chị và buộc lòng phải trào lên ngọn bút mà thành.
Văn của chị không đánh đố người đọc nhưng những ai đọc văn chị đều không thể không có chút ngờ vực vì hình như vẫn có “một điều gì đó” sau mặt chữ, sau trang giấy. “Ý tại ngôn ngoại” trong văn chương là vậy.
Đã không ít người đọc văn chị bỗng giật mình bởi mang máng nghi hoặc: Hình như tác giả ám chỉ vào mình(?). Hình như họ đã nhận ra mình ở một nhân vật nào đó trong chuyện của chị? Đó cũng là một nét tài hoa độc đáo trong văn phong của chị. Và, đó cũng là thành công của chị. Tạo cho chị một phong vị rất riêng trong văn chương. Vì vậy, không ít người yêu chị nhưng cũng không ít kẻ gơm gớm cái bản mặt vốn hiền lành và trong sáng của chị!
Những điều trên đây có chân thật hay không xin mời quý bạn đọc đọc qua những câu chuyện nhỏ trong tác phẩm đầu tay này của chị sẽ rõ.
Hy vọng bạn đọc sẽ thỏa mãn và cảm  thấy vui, thú vị sau khi đã dành chút thời gian đọc xong tập truyện ngắn GÓC KHUẤT này.
                                                          Nhà thơ Võ Ngọc Sơn

Người đầu tiên chia vui với tôi là con gái, nó bảo: "Mẹ mặc áo dài vào, con muốn chụp một bức ảnh để khoe với bạn bè." Với tay nghề cực siêu của nó, dùng điện thoại, nó chụp cho mẹ một bức ảnh mà nhìn vào tôi nghĩ ngay đến một tên tội phạm đang ôm bằng chứng phạm tội ở cơ quan điều tra:





  

Thứ Ba, ngày 15 tháng 7 năm 2014

CON KHÔN.


  Khi dượng nhặt được nó trong đám rác hôi thối, nó gần như kiệt sức. Thoi thóp trong chiếc túi bóng, nó không thể kêu được nữa. Chắc người ta sợ nó chết trong nhà vào đầu tháng thì bị xui nên vội vứt đi. Nó cố thở gấp gáp, nhận chút không khí cuối cùng nơi dương thế, một thứ không khí ô nhiễm đến đậm đặc bởi mùi thức ăn ôi thiu, mùi xác chuột chết, mùi lông gà lông vịt, mùi phân chó…Nhưng cũng may cái túi bóng cột nó không đến nỗi kín, nên phổi của nó vẫn làm việc được. Dượng  cúi xuống, nâng nó trên hai bàn tay xù xì mà xuýt xoa: “Tội nghiệp, mày nằm cả đêm giữa trời mưa lạnh thế này ư?”.
  Thấy dượng đưa về một con chó ướt rượt, nhớp nháp, gầy còm nhom tưởng như nhìn  được cả lục phủ ngũ tạng qua lớp da bụng xanh lét, mỏng tang đang phập phồng, o đâm hoảng. “Mồng một đầu tháng, ông rước nó về để nó chết trong nhà mình sao? Rõ dở người.” “ Nó còn sống bà ạ. Nếu có chết cũng để nó chết sạch sẽ một chút.” Dượng nói chầm chậm, đếu đều, nhưng o biết dượng sẽ không  đổi ý mỗi khi đã quyết.
 Dượng ủ ấm cho nó trong chiếc chăn chiên cũ, đặt cạnh bếp lò nấu rượu.
Gần trưa, nó có vẻ tỉnh, cặp mắt lồi to của nó không nhắm nghiền lại nữa mà đã mở ra, mỏi mệt. O đổ cho nó ít nước cơm, nó nuốt được vài thìa rồi nhắm mắt, cổ  ngoẹo xuống, thở…Dượng lấy lọ dầu nóng, đổ ra lòng bàn tay, xoa đều vào bụng nó, xoa cả lưng, cả cổ, cả mặt nó nữa. Nó kêu lên một tiếng yếu ớt rồi nằm im. Chiều, o quấy ít cháo loãng, đổ tiếp được vài thìa, cu cậu đã lấy lưỡi liếm liếm giọt cháo đổ vương bên mép. Dượng nghiền mấy viên B1 với hai viên béc- be- rin, hòa nước cho nó uống. Đêm mồng một trôi qua, nó vẫn sống.
  Ngày hôm sau, nó đã lồm cồm ra khỏi chiếc chăn, vẹo vọ đi lại liếm liếm gót chân o khi o đang ngồi chà men rượu. Dượng vừa đi nhập rượu về, thấy thế,nhấc nó lên, cười khà khà: “Mày sẽ sống, chắc chắn thế. Phải sống chứ, đúng không?”
  Hai o dượng chăm nó chẳng khác chăm một đứa cháu nhỏ ốm đau. Cháo loãng rồi cháo đặc, thuốc uống rồi thuốc tiêm.  Nó cũng đã chạy loăng quăng trong nhà, quấn chân o khi o nấu rượu, theo chân dượng khi dượng quét dọn chuồng gà chuồng lợn. Nhưng cái tật tè bậy, ị vô ý thức làm nhiều lúc o điên tiết lên. Ai đời thẩu men o vừa chà xong, chưa kịp rắc lên cơm rượu thì cu cậu ghếch chân…tương vào một bãi khai rình. Hay có hôm, nhà vừa lau sạch bong, cậu tướt luôn một bãi phân tanh rích. Dượng  chậm rãi: “ Nó chưa khỏe hẳn, đừng đánh nó mà tội.”. O nghĩ đến đứa cháu nội hồi trước, ốm đau dặt dẹo mấy năm vì bệnh gan bẩm sinh rồi mất, nước mắt o chảy ra, o lại thương nó mà không nỡ đánh.
  Được hơn hai tháng, nó đã thay đổi hẳn. Vóc người cân đối, lông đen nhức, mượt mà. Nó có đến tám cái móng đeo ở bốn chân , ai đến cũng xuýt xoa, ông bà có con chó trông tướng thế, chó có tám móng đeo là khôn lắm đấy, ông bà sẽ phát phú quí đấy. Dượng cười khà khà, lương hưu hai ông bà mỗi tháng bốn triệu hai, nuôi lợn nuôi gà tháng trồi tháng trụt trong khoảng triệu hơn triệu kém, muốn phát phú quí may ra được viên đá đỏ bằng cái ấm tích. Hơ hơ…
  Dượng đặt tên nó là Khôn, bởi nó khôn thật. Sau khi hết bệnh, nó ngoan hẳn. Riêng cái khoản đi vệ sinh thì cấm có thấy nó bậy bạ bao giờ nữa. Cũng kín đáo, cũng ý tứ như ai. Khách đến nhà, Khôn nằm gác mõm lên hai chân trước mà quan sát cử chỉ, mà nghe giọng nói của họ. Dượng bảo, muốn xác định người gian, kẻ ngay, người tốt kẻ xấu thì chỉ cần nhìn vào thái độ của con Khôn là biết. Có người đến lần thứ hai là nó đã vẫy đuôi mừng, vừa vẫy đuôi vừa sủa vui như có ý chào và báo với chủ. Có người đến nhiều lần, ngồi cơm rượu với chủ nhiều bữa, thậm chí có cả anh em họ hàng, nhưng lúc nào đến, nó cũng sủa gay sủa gắt, chủ mắng mãi mới chịu im nhưng nó vẫn gầm ghè, lườm lườm nguýt nguýt, ra chừng có ý bảo: “Đây biết tỏng cái bụng của đấy rồi nhá, cười cười nói nói ngọt nhạt thế thôi, cơm rượu chén no say thì khoác lác ba voi thế thôi, chủ tôi mà hở mạng sườn ra là đấy lách dao vào cứa ngay ấy mà.”
 Mồng bốn Tết, o dượng về quê mừng thọ ông bà và nhờ người cho nó ăn. Suốt hai ngày, nó không hề đụng một hạt cơm cho dù bụng kẹp lép. Nó cứ nằm cạnh cổng mà chờ tiếng bước chân của chủ. O lấy cho nó một tô cơm, nó ngoạm mấy miếng hết veo. Dượng mắng nó: “Mày sợ người ta bỏ thuốc độc à? Sao không ăn?” Nó lấy mõm dụi dụi vào chân dượng, rồi dụi dụi vào tay o, ra vẻ nhớ lắm, nhớ lắm…
  Thế mà hôm sau tự nhiên Khôn biến mất. Rõ ràng buổi tối o vừa cho nó ăn cơm, vậy mà sáng mai chẳng thấy đâu nữa. Bình thường mấy khi nó ra khỏi nhà đâu. Trưa cũng không thấy nó về. O dượng đi tìm khắp trong xóm, không thấy. Thế là hết! Hai ông bà ngồi buồn xo, bữa cơm uể oải không ai muốn nuốt. Khôn ơi là Khôn, mày đi đâu? Sao mày nỡ bỏ mà đi như thế? Trong lòng dượng xót xa kêu lên như  để thầm thì với khoảng không, để nhờ luồng điện sinh học truyền đến nơi nào đó may ra Khôn nghe được, cảm nhận được mà quay về. Nhưng khi thấy o khóc thút thít thì dượng mắng át đi. Mất thì thôi, chỉ là một con chó chứ có phải viên đá đỏ đâu mà tiếc! Đang buồn mà nghe dượng nói thế, o cũng phì cười. Nửa đêm đang nằm, o bật dậy. Dượng hỏi sao thế. Tôi mơ thấy con Khôn về ông ạ, nó đói lắm. Dượng gắt, ngủ đi, rõ vớ vẩn. Thế nhưng dượng lại thở dài đánh sượt. Hai ông bà thao thức từ đó cho đến sáng.
  Mờ sáng ngày thứ ba, hai o dượng vừa dậy nhen bếp lò thì nghe tiếng thúc cổng, sợi xích khóa khua rổn rảng. O lật đật chạy ra. Khôn ướt như chuột lụt, trên cổ còn nguyên cả một vòng sắt cặp cứng như gọng kìm của bọn chuyên đi câu trộm chó. Chẳng biết bằng cách nào mà Khôn thoát được, và cũng chẳng biết nó chạy và trốn ở đâu trong hai ngày ba đêm để đói đến mềm người đi, lả người đi như thế. Chỉ biết là từ đó, mỗi khi nghe tiếng xe máy chạy rạt qua cổng, nó lại giật mình, người co rúm lại.
  Trước cổng nhà o dượng dạo này bỗng tụ tập bao nhiêu là chó. Chó đực, chó cái cứ quây lại, cắn nhau, sủa ăng ẳng. Dượng bảo mùa chó yêu nhau đấy. Nhìn thế chứ đôi nào ra đôi ấy, không lăng nhăng lộn xộn đâu. Khôn chẳng đoái hoài gì đến đám chó nhách ấy. Mặc cho ả vện kia cứ thò mõm vào mà kêu lên ư ử, mà oặn mình, mà ngoáy mông ngoáy đít làm duyên làm dáng. Đôi mắt Khôn thỉnh thoảng buồn bã nhìn sang ngôi nhà tầng đối diện. Bên đó có con Hoàng khuyển, một con chó cái với bộ lông vàng mượt, thân hình mềm mại uyển chuyển nhưng chẳng bao giờ được bước chân ra đường, chẳng bao giờ được một lần vui vẻ cùng đồng loại. Rồi luôn mấy hôm, con Khôn đến trước cổng, ghé sát vào khoảng trống của những song sắt mà nhìn vào, ánh mắt vừa thương cảm, vừa xót xa, vừa yêu thương, vừa thèm khát. Đôi mắt buồn rười rượi và cũng chan chứa yêu thương của Hoàng khuyển nhìn nó làm Khôn ngây ngất, xốn xang. Nhưng làm sao nó vượt qua được chiếc cổng đồ sộ này?  Đây là  ngôi nhà của đại gia giàu nhất  vùng . Nghe bảo phần  móng đã hết hai mươi tỉ, thiết kế theo kiểu có trục xoay, ngôi nhà ba tầng đồ sộ như thế nhưng có thể quay đổi hướng theo mùa. Bên đó hầu như chỉ có bà chủ ở nhà, vào ra lặng lẽ như cái bóng. Nói là bà chủ vì là vợ ông chủ, chứ cô ấy gần như chẳng có quyền hành gì trong ngôi nhà mình. Ông chủ dành hẳn một phòng ở tầng hai để hú hí với bồ non, một phòng ở tầng ba để thỉnh thoảng rủ bạn về bài bạc thâu đêm. Lúc đầu cô ấy cũng phản ứng ghê lắm, nhưng ông chủ bảo, không chịu được thì cô li hôn đi, để con đó tôi nuôi. Cô cay đắng nghĩ về sai lầm của mình ngày xưa, khi hai đứa con trai mắc chứng hen suyễn, ốm lên ốm xuống, chồng cô đang kì phất lên trong làm ăn, bảo cô thôi việc ở nhà chăm con. Cô đã rời xa bục giảng sau chín năm công tác. Hai con giờ đi học xa, cuộc sống cô trở nên vô vị trong sự nhàn tản. Hôm đứa học trò cũ đến nhà, lí nhí chào cô rồi õng ẹo cùng ông chủ lên gác hai, cô cũng thây kệ. Niềm vui duy nhất của cô là tối tối gọi điện cho con, hỏi han chúng đủ thứ, nghe giọng nói của chúng, biết chúng khỏe, lo học hành, thế là cô ngủ ngon.Còn Khôn thì mất ăn mất ngủ vì đôi mắt của Hoàng khuyển. Có ngày nó chỉ xoay qua xoay lại bên chiếc cổng mà chẳng thiết  ăn uống gì.Cánh cửa đóng mở bằng ấn nút tự động từ chìa khóa xe của chủ,  chỉ thỉnh thoảng mở ra  rồi đóng ụp lại ngay. Khôn chỉ biết gửi ánh mắt mình qua song sắt để kẻ đang bị giam giữ trong kia đong được nỗi niềm thương nhớ đầy vơi của kẻ ở ngoài.
  Hôm ấy, một chiếc xe con đến đậu sát bên cổng, khách bấm chuông một lúc nhưng chẳng có ai ra. Khách vừa lên xe, nổ máy quay đầu thì  Khôn vụt một cái, nhảy phốc lên mui xe, rồi từ mui xe bay phốc qua cổng, ngã đánh uỵch xuống nền gạch. Có lẽ sức mạnh của tình yêu đã nâng đỡ nó, tiếp sức mạnh cho nó. Hai bên vui mừng quấn lấy nhau, hít hít, kêu ư ử…Khi cả hai đang ngây ngất trong men say tình ái thì đột nhiên cổng mở, ông chủ xuất hiện. Nó không kịp thoát thân. Nó nhìn cánh cổng đã ụp lại, nhìn đôi mắt nảy lửa của ông chủ và biết mình sắp chịu một cơn thịnh nộ ghê gớm. Ông chủ bước vào nhà đúng lúc bà chủ bước ra trong bộ váy ngủ, đầu tóc xõa xượi. “ Thằng nào vừa vào đây?” “ Đâu có ai? Em bị nhức đầu nằm mê man giờ mới tỉnh.” “ Nhức đầu mê man hay sướng mê man?” “ Mình nói năng gì lạ thế?” “ Đừng vờ vịt nữa, con đĩ! Vết xe đang rành rành ra kia kìa. Mày mở cổng tiếp trai nên con chó kia mới  theo vào được, hết chối chưa?” Bà chủ trố mắt ngạc nhiên nhìn con Khôn đang run lẩy bẩy bên chân cổng. Đột ngột, ông chủ lấy khẩu súng săn. Đoàng! Con Khôn lao mình bay lên phía trước, chiếc cổng rung lên vì trúng đạn. Đoàng! Đoàng! Ông chủ điên tiết , những viên đạn cày lên bức tường. “ Con đĩ, mày xem đây để biết số phận của kẻ kia và cả của mày nữa.” Ông chủ lại nghiến răng, nhe đầu con Khôn bóp cò. Nhanh hơn cả đường bay của viên đạn, Khôn lao tới. Không, Khôn bay ào như một luồng gió. Ông chủ kêu lên một tiếng đau đớn, cánh tay đang cầm súng loang máu, khẩu súng rơi xuống phát ra một tiếng lạnh người. Bà chủ luống cuống bấm nút. “ Ra đi, Khôn!” Tiếp sau Khôn là Hoàng khuyển, cả hai phóng vụt qua cánh cổng đáng sợ vừa đúng lúc o dượng và mọi người chạy đến.
        
                                     Quỳ Hợp, 15/7/2014
( Hì, đã sửa lại đoạn kết theo gợi ý của anh Hồ Quốc Thái)
 

 

  
  

Thứ Hai, ngày 07 tháng 7 năm 2014

LẠC QUÊ.



Nơi này quán chị ngày xưa
Thanh kẹo lạc, ấm chè vừa om xong.
Khách quen sau buổi làm đồng
Mời nhau bát nước chè xanh thơm lừng.
Chuyện cấy hái, chuyện vợ chồng
Chuyện nhà chuyện cửa làng trong xóm ngoài.
Bụi tre kẽo kẹt đưa nôi
Lá tre già cứ rơi rơi nhẹ nhàng.

Hôm nay tôi đứng ngỡ ngàng
Đường bê tông, lối dọc ngang kín tường.
Còn đâu nữa bụi tre làng
Còn đâu quán nước vẫn thường dừng chân?
 Nhà hàng, quán xá mọc lên
Quay trong tiếng nhạc xập xình sớm trưa.
Tôi đi, lòng bỗng nghi ngờ
Hay mình đã lạc mất quê của mình?
                             7/7/2014
                                  Nhật Thành