Chân thành cám ơn các bạn đã đến với blogger: HƯƠNG NGÀN - Của Hồ Nhật Thành!

Thứ Bảy, ngày 12 tháng 4 năm 2014

HẠNH PHÚC ĐƠN SƠ


Có thể hàng trăm, hàng nghìn người ngưỡng mộ anh
Vì anh thông minh, đa tài, lịch lãm.
Và  có thể cũng chừng đó người khát khao thầm lặng
Được lọt vào trong đôi mắt xanh.
Họ lôi kéo
Họ tranh giành
Họ hung hăng
Hay khôn khéo…
Em biết phận mình tài hèn sức yếu
Chẳng dám chen chân ở chốn đông người
Trong cuộc ganh đua kẻ khóc người cười
Em lặng lẽ đứng nhìn nhân thế!
Em trân trọng những con người bình dị
Thấu hiểu, cảm thông, chia sẻ lặng thầm.
Và dòng đời cứ chảy dọc tháng năm    

Niềm hạnh phúc đơn sơ cho HƯƠNG NGÀN bay mãi!

Thứ Sáu, ngày 04 tháng 4 năm 2014

CHUYỆN TÌNH CỦA NÀNG VÀ HẮN


Nàng quan hệ với hắn đã hai năm nay.
Hồi đó, khi người ta giới thiệu hắn với nàng, nàng ngúng nguẩy, nàng giận dỗi, nàng phản đối kịch liệt. Nguyên do là nàng nghe nhiều tin đồn: đó là một kẻ quá khó tính, quá cẩn thận, quá chỉn chu, và … tính toán từng đồng, từng hào như một mụ đàn bà ít tiền ra giữa chợ! Trời ạ, sống với một người đàn ông như thế thà…ở vậy cho xong.
  Hiệu trưởng động viên: “ Trước lạ sau quen, biết đâu khi quen hơi bén tiếng rồi thì bảo bỏ không chịu bỏ.” Nàng trợn mắt: “ Không đời nào!”
  Bạn bè của nàng dần dần ủng hộ hắn, bảo hắn có nhiều ưu điểm. Nàng nằm suy nghĩ và…thở dài! Thôi thì cứ sống thử với hắn xem sao, không hợp thì đường ai nấy đi, mất gì!
  Nàng nói suy nghĩ đó với bạn bè, ai cũng động viên: “Ừ, thử đi! Nếu có chỗ nào còn khúc mắc thì bạn bè sẽ giúp cho hai người….gỡ rối! Thời đại này, sống thử đang là “mốt” của những ai đang muốn chung sống lâu dài với nhau.”
  Hắn nhắn tin cho nàng. Một tin nhắn khá hấp dẫn. Nhưng bước đầu nàng ngại khi đối mặt với hắn nên rủ cả vài người cùng đi cho có khí thế. Đến nơi, mấy người bạn đẩy nàng vào phòng hắn rồi động viên: “ Vạn sự khởi đầu nan. Cố lên nha.” Khi nàng và hắn đứng áp mặt với nhau, nàng mạnh dạn ấn cái quí giá nhất của mình vào chỗ nhạy cảm của hắn. Mặt hắn sáng lên. Hắn thầm thì: “ Anh thông thạo cả tiếng Anh và tiếng Việt, mình có thể nói với nhau bằng ngôn ngữ nào?” “ Bày đặt khoe khoang đây mà!” Nàng nghĩ vậy nhưng vẫn mỉm cười và dí ngón tay vào má hắn: “ Mình dùng tiếng Việt nghe anh.”
Hắn hỏi nàng những câu mang tính chất …tìm hiểu. Sợ gì! Nàng trả lời rất chân thật. “Khôn ngoan chẳng lọ thật thà”, “Mất lòng trước, được lòng sau”, cha ông chẳng đã khuyên thế còn gì? Nàng cứ nói rõ về mình, về những suy nghĩ, những ước muốn của mình. Hắn chấp nhận cũng tốt mà không chấp nhận thì có cớ để nàng lu loa lên rằng: “Đấy, cứ xui dại tôi đến với hắn nữa đi. Tuổi tôi không hợp với hắn nữa” Để rồi sau đó nàng từ bỏ hắn cho rảnh nợ!
  Ai ngờ, hắn vui mừng đồng ý.  Xong việc, hắn nhẹ nhàng đẩy cái quí giá của nàng ra, rồi sau đó hắn đưa cho nàng một xấp tiền.Tiền cụ Hồ ai mà không thích! Nàng nhanh tay nhận số tiền hắn trao. Trước lúc nàng ra khỏi phòng, hắn còn lịch sự cảm ơn nàng và mong sẽ được gặp lại nàng lần khác! Nàng chẳng cần trả lời. Với vẻ mặt cực kì sung sướng, mãn nguyện,  nàng nói với bạn: “Anh ta cũng không đến nỗi nào!”
  Sau lần đầu tiên ấy, nàng bỗng hay nhớ hắn. Chỉ cần hắn nhắn tin là nàng lao ngay đến trong sự khao khát  tột cùng! Và lần nào hắn cũng làm nàng thỏa mãn ( tất nhiên nàng cũng không dám đòi hỏi quá đáng).
 Giờ thì nàng nhận ra rằng, nếu thiếu hắn, nàng sẽ không sống nổi. He he…
Hắn là ai vậy nhỉ???
(Mọi người đến chơi cứ...ném đá thoải mái vào mối tình thực dụng này của nàng nhé. Nhật Thành bận việc, có thể chưa tiếp mọi người được, nhưng hôm sau nếu về thấy có nhiều đá thì rất cảm ơn mọi người, vì chủ nhà sẽ gom chúng lại và nhờ em Châu Thanh Thủy làm non bộ. Hì   hì...)



Thứ Ba, ngày 01 tháng 4 năm 2014

CHA CHỒNG TÔI

Tôi đã viết một bài cho thầy tôi ở đây, giờ tôi xin kể về cha chồng tôi các bạn nhé.

 Hồi ấy, tôi đã quyết định không lấy anh.
 Không phải tôi “có mới nới cũ” mà vì  càng ngày tôi càng nhận rõ anh là con người vô tư đến …vô tâm!
Phút cuối, tôi đã không lên xe. Xe khách ngày tết chật như nêm, ai hơi đâu nài nỉ một hành khách …trở chứng!
 Thầy tôi nổi nóng: “ Vừa thôi con, hai tám tuổi đầu, nó rước cho là phúc lắm rồi đó.” Tôi cãi: “ Cho ba mươi luôn thể.” Thầy tôi vứt tung gói bánh qui của kẻ đến sau: “ Tao không chấp nhận thằng mô nữa. Cút!”
Tuy nhiên, kẻ đến tết thầy mẹ tôi gói bánh với chai rượu đã về  rồi, chỉ tôi đang đứng trơ chịu trận.
  Hai chín tết, anh lò dò vào nhà tôi: “ Sao quay lại?” “ Cha anh bắt phải đưa được em về không cụ không cho ăn tết.” Thầy tôi mừng như nhặt được vàng: “ Xếp đồ mau. Xe chuyến hôm nay sắp xuống rồi!” Quay sang con rể tương lai: “ Nó không đi thì thầy bỏ rọ bưng lên xe.”
   Năm đó cha đã tám mươi. Thấy hai đứa dẫn xác về, cha ra đón từ ngoài cổng: “ Mệt không con? Chà, đi hai chặng xe ngày tết chắc lư tử luôn hè?” Cha xăng xái xách đồ, dắt tay tôi vào nhà: “Bà ơi, con du nầy, du cả này.”
Và cha cười. Nụ cười sảng khoái của người lao động với niềm vui chân chất, mộc mạc.
   Mấy ngày tết, cha vui lắm. Cha chẳng hỏi gì tôi nhiều, chỉ kể chuyện. Chuyện của cha là chuyện hồi xưa đi dân công hỏa tuyến, vui thế nào, khổ thế nào, hăng hái thế nào…Thường ngày, khi rảnh rỗi cha vẫn kể say sưa cho mọi người nghe, nhưng mới câu đầu: “ Hồi đó ấy à, chà chà…cả nước theo cụ Hồ một lòng một dạ…” thế là con trai, con gái, con dâu kiếm cớ lảng ra. Cuối cùng, cha chỉ còn gật gù với …cái điếu cày!  Tết này có tôi ngồi nghe chăm chú, thỉnh thoảng lại họa vào đôi ba chi tiết cho câu chuyện thêm phần…sôi động, cha vui lắm. Cha hỏi: “ Rứa con cũng biết à?” “Biết chứ, con còn biết cả cánh đồng Chum bên Lào nữa” “ Đúng, đúng! Cha cũng đã từng đến đó. Đá cả thôi con hè?” “ Dạ, những hòn đá to tướng, nhìn chẳng khác gì những chiếc chum.” Cha đi khoe với mọi người: “Con du tui nó cũng từng đi dân công hỏa tuyến thời chống Pháp đó.” “Ông nói nghe hay! Con du ông may ra năm nay hai mốt, hai hai là cùng (vì cái mặt dại dại ngơ ngơ của tôi nên họ đoán thế), chống Pháp từ đời mổ đời mô mà nó tham gia?” “Ừ hè, răng mà hấn biết rành rọt rứa.”. Tôi giải thích cho cha hiểu, những chuyện đó người ta ghi lại trong sách. Mắt cha sáng lên: “ Ô trời, chuyện cha làm mà họ cũng ghi lại à?”  
   Mồng bốn tết, trời vẫn mưa rả rích. Con đường đất từ xóm ra đến quốc lộ 7 lầy lội nhớp nháp và trơn trượt. Cha xách hết đồ đạc cho tôi và cùng anh bước phăm phăm phía trước. Tôi vất vả vật lộn với đôi gưốc nhót. Mỗi bước đi, đế guốc cắm sâu xuống bùn, lôi toát mồ hôi. Cha dừng lại chờ: “ Bữa sau về thì đi dép thấp con ạ.” “ Có bữa sau nữa sao?” Tôi thầm nghĩ. Trước khi tôi lên xe, cha nắm tay tôi  lắc lắc: “ Giữ gìn sức khỏe nha con.”  
 Năm cha vào tuổi tám lăm, vẫn đau đáu chờ đứa cháu đích tôn. Tết ấy, sau bao lần lữa, tôi nói với cha: “ Cha cho phép chúng con…chia tay nhau.” Cha cầm  tay tôi. Bàn tay tôi nhỏ bé trong đôi tay to bè thô mộc của cha. Lặng đi hồi lâu, cha nhìn tôi: “Con à, nếu tại nó, con hãy lặng lẽ kiếm một đứa, cha cho phép…” Tôi tròn mắt nhìn cha. Có một cái gì đó dâng từ lồng ngực lên cổ. Lòng tôi cay đắng hay lòng cha đắng chát? “ Con hãy lặng lẽ kiếm một đứa” Lời của một người cha từng nếm trải bao cay cực trong đời! Lời của một người đã từng đau đớn li hôn vì người vợ tranh thủ lúc chồng đi dân công đã có con với người đàn ông khác! Nhiều năm sau, cha mới tạm nguôi ngoai để kiếm một người cho đũa có đôi! “Con hãy lặng lẽ kiếm một đứa!” Xót xa thay! Nhưng ánh mắt cha nhìn tôi lúc đó là ánh mắt yêu thương! Tôi nghẹn ngào nói trong nước mắt: “ Con không thể, cha à. Làm sao một đứa cháu không cùng huyết thống lại có thể trở thành cháu đích tôn?” Hai giọt nước mắt chảy chầm chậm trên khuôn mặt nhăn nheo của cha. Cha buông tay tôi, cầm chiếc điếu cày. Lập cập mãi  cũng không châm được lửa.
  Sau này, khi tôi có con (tất nhiên là cháu ruột của cha), tôi kể lại chuyện ấy cho mẹ chồng nghe, mẹ cho tôi hay: cha khẳng định tôi không thể không có con, nhưng giờ vì con trai mình mà tình duyên dang dở, bỏ nhau thì con dâu cũng khó lấy được người khác, mà con trai mình dù lấy người khác cũng thế thôi, chi bằng để nó…còn mình vẫn có được con dâu quý. Thế đủ biết, trước khi tôi đòi li hôn, cha đã suy nghĩ nhiều lắm. Lời khuyên tôi đã được cha cân nhắc kĩ càng mọi lẽ.
  Cha ra đi ở tuổi tám mươi tám, khi chưa được nhìn thấy mặt đứa cháu trai mà cha hằng mong đợi. Lúc đó cháu gái Diệu Thùy của cha tròn ba tuổi.
    Nhận được tin cha ngã bệnh, tôi đang chấm thi tốt nghiệp. Còn một ngày nữa là xong, tôi cố nán lại để nhận tiền  thêm vào về chăm cha. Ai ngờ ngày hôm sau cha đi. Khi công đoàn, nhà trường và tôi thuê xe về đến nơi thì chỉ còn thấy một bàn thờ sơ sài, khói hương nghi ngút cuộn trong cái nắng đổ lửa tháng năm.
 Thầy cúng bảo được giờ tốt thì đưa cha ra đồng  kẻo muộn.
Người dân quê quan niệm ở tuổi đó thì con cháu hãy tổ chức đám ma vui, đừng khóc lóc mà người ra đi không thanh thản.
  Tối đó, trong gian nhà ngang chật chội, bên đống lúa cao ngất, tôi kê tập giấy học trò lên chiếc ghế nhỏ ngồi viết.
  Đó không phải là bài văn tế mà là những lời tôi khóc cha.
Tôi khóc cho một tuổi thơ bất hạnh. Bốn tuổi mồ côi cha, bốn mẹ con sống lầm lũi, heo hắt trong căn lều rách nát.Em trai chết vì đói, chị gái chết vì bệnh tật không có tiền thuốc men. Người mẹ héo hon dần và để lại đứa con trai côi cút khi mới hơn mười tuổi.
Tôi khóc về một cuộc đời đi ở không công. Anh Khoai ngày xưa trong truyện “Cây tre trăm đốt” còn nuôi hi vọng lấy người con gái phú ông làm vợ, còn cha nai lưng làm quần quật chỉ vì ngày hai bữa cơm và tối có chỗ ngủ khỏi phải gió sương.
  Tôi khóc về một con người chất phác, hiền lành mà gặp lắm đắng cay chua chát. Hơn ba mươi tuổi, nhà chủ hỏi cho cha một người vợ. Người đó đã phụ tình  khi cha đi phục vụ kháng chiến nơi xa.
  Tôi khóc về một cuộc đời lam lũ nắng mưa. Cha quần quật làm nuôi chín  người con vì vợ ốm yếu chỉ bận mang thai rồi nuôi con nhỏ. Cha nghĩ đời mình vất vả nên không muốn con phải  khổ như mình. Một tay cha đồng xa đồng gần, ruộng sâu ruộng cạn. (Mười tuổi tôi đã níu sau tay cày còn chồng tôi đến giờ  vẫn chưa  biết làm thế nào để thực hiện một đường cày trên ruộng.)
  Cả cuộc đời cha chưa cần đến một viên thuốc cảm. Thế mà lần đầu tiên ngã bệnh, chẳng có thuốc nào níu lại sự sống cho cha dù chỉ vài ngày để gặp đủ cháu con trước lúc đi xa.
   Tám mươi tám năm đời cha, tôi gói ghém trong 4 trang giấy nhỏ.
Lễ tam nhật, ông chú đọc những lời tôi đã khóc cha. Và lúc đó, những tiếng nấc nghẹn ngào của con cháu, anh em, làng xóm không ai kìm giữ được. Thế mà lúc đưa cha đi, chỉ có mấy tiếng khóc hờ cho  đúng lệ mà thôi.
Tôi ngồi lặng lẽ  ngước lên di ảnh của cha và nhận thấy ánh mắt cha nhìn tôi trìu mến.
 Tôi biết, cha  rất vui  vì lần đầu tiên câu chuyện đời cha được mọi người lắng nghe đầy xúc động chứ không lảng tránh như mỗi lần cha kể trước đây.
  Đứa em dâu hỏi: “Sao chị ít về mà biết nhiều chuyện về cha như thế?”
Tôi  chỉ cười lặng lẽ. 
    Mười hai năm đã trôi qua…Năm nay vừa tròn 100 năm ngày cha sinh ra trên đời.
  Viết bài này, tôi muốn nói với mọi người rằng: Hãy biết lắng nghe những tâm sự của người già, vì những lúc ấy họ rất cần có người để chia sẻ. Khi về cuối đời, người ta thường muốn nhớ  lại những tháng ngày quá khứ. Đừng để người già cô đơn vì sự vô tâm của những người thân.


Chủ Nhật, ngày 30 tháng 3 năm 2014

TỰ THÚ

   Như tôi đã có lời chia sẻ với mọi người trong làng ta, vì say nắng quái chiều, tôi bị cảm. Bệnh có vẻ cũng không nhẹ chút nào, không đơn giản chút nào. Tôi đã theo cả Đông y, Tây y, Bắc y, Nam y. Bốn phương tám hướng ai mách thuốc hay tôi đều thử…nếm! Bệnh vẫn tiến triển theo chiều hướng tăng dần về mức độ nguy hiểm. Cuối cùng, may nhờ phương thuốc gia truyền của một nhà thơ chuyên chữa bệnh tương tư, tôi đã cảm …nặng hơn rất nhiều. Rốt cuộc, tôi phải vào lại blog để…tự thú trước bà con:

TỰ THÚ
Từ khi gặp anh
Hình ảnh anh luôn ngập tràn tâm trí
Từ khi hiểu anh
Tất cả đàn ông trên  đời đều vô nghĩa!
Gặp anh trong giấc ngủ
Gặp anh giữa dòng đời
Chỉ là giấc mơ thôi
Mà sao lòng xao xuyến ?
Thoáng bóng hình hơi giống
 Sao ta lại giật mình?
Khi người nhắc tên anh
Sao lòng ta bối rối?
Không!
Nhất quyết không đâu, người thương mến hỡi!
Không bao giờ ta thú nhận rằng Yêu!
   Đấy, nói được bấy nhiêu lời với bà con, lòng tôi nhẹ nhõm hẳn đi, chẳng khác nào đang cảm cúm mà được xông một nồi nước với những cây lá vườn nhà: nào sả, nào hương nhu, nào lá tre, lá chanh, lá bưởi...Thế là hết bệnh.
 Thế giới blog của chúng ta kì diệu như thế, cớ sao mình phải chia xa?
Vâng, giờ thì tôi sẽ trở về cùng làng ta, chia sẻ buồn vui cho đến ngày spot tận thế!




Thứ Bảy, ngày 22 tháng 3 năm 2014

LỜI XIN LỖI VÀ TỪ BIỆT!

Thành thật xin lỗi bà con làng blog spot chúng ta.
Vừa rồi, tôi đã tự cấm mình không được vào  mạng nữa. Phần vì bận việc riêng, nhưng cái chính là tự nhiên có một chút chông chênh, chống chếnh, một chút chơi vơi, một chút chòng chành…trong lòng. May mà cũng chỉ là cảm giác say nắng …quái chiều!
   Cơn cảm sốt tâm hồn cũng dễ sợ lắm thay! Nó làm con người ta ngất ngơ ngất ngưởng, nóng lạnh thất thường, loáng choáng không xác định đúng phương hướng. Nó làm con người ta ngẩn ngơ quên cái nọ, nhớ cái kia, bổi hổi bồi hồi …Nó làm trái tim ta khi đập rộn ràng, khi đông cứng lại. Nó làm cái đầu ta khi tỉnh khi mê…
  Tôi đã  lặng lẽ rời làng ta để trở về cõi thực, vùi quên tất cả trong công việc và làm tốt mọi bổn phận hàng ngày. Rời xa lặng lẽ vì sợ nói lời chia tay, đọc những dòng động viên, an ủi, khuyên nhủ, rủ rê của mọi người mình sẽ mềm lòng bước đi không đặng.
   Tôi đăng bài XẤU XA ĐẬY LẠI? với một dấu hỏi. Dựa vào câu chuyện vui rất thực nhưng là để bộc bạch, để gửi gắm nỗi niềm. Bởi tôi và mọi người đều biết, trong cuộc đời này có nhiều thứ rõ ràng không xấu, nhưng ta không thể nói ra, ta phải dấu kín, phải đậy nó lại.Và vì thế, xin mọi người đừng hỏi và đừng đoán già đoán non về cơn say nắng vừa qua của tôi nhé.
 Trong tuần qua, càng cố vùi đầu vào công việc, mọi khuôn mặt của bà con trong làng blog spot lại hiện ra, ám ảnh quay cuồng.Và nhớ! Nhớ quay quắt! Nhớ phát điên! Nhiều lần định mở gu gồ, nhấp vào chữ HƯƠNG NGÀN lại dằn lòng chịu đựng.
  Chiều qua tôi đang dạy, nhận được tin nhắn của thấy giáo Cao Đăng Chuyên, chủ nhiệm cũ của tôi hối cấp 3: “Em có dùng facebook thì giao lưu với thầy nhé.” Chẳng biết đây là lời rủ lần thứ mấy của người thân, bạn bè.
Nhưng thôi, khép lại tất cả những đam mê…Tôi trở về cõi thực.
   Xin phép anh Hồ Quốc Thái, chàng Lơ, em Huỳnh Xuân Sơn, em Lộc Vừng, bạn Mưa Rừng Chiều, anh Quang Thứ, anh Mẫn, Trung Lão Quang Thầu, em Minh Chính, anh Hai Lúa, anh KhungK không trả lời com chia sẻ XẤU XA ĐẬY LẠI nữa nhé.
Xin cảm ơn sự chia sẻ của mọi người trong quãng thời gian qua đã đem đến cho tôi những niềm vui khó tìm thấy ngoài đời.
  Xin nói lời chia tay bà con ta từ hôm nay.
Xin gửi đến mọi người muôn vàn tình thương mến!


Thứ Hai, ngày 17 tháng 3 năm 2014

XẤU XA ĐẬY LẠI?

Khi con trai tôi lên sáu.
Mỗi lần đi học về là y như rằng quần cu cậu toang hoác từ đũng đến….đầu gối. Cho dù là quần thể thao, quần bò hay quần ka ki cũng thế. Cho dù mẹ đã cẩn thận bảo cô thợ may may thêm cho một đường chắc chắn rồi vẫn thế. Không đứt được đường chỉ thì vải cũng phải nứt ra bằng được! Chả là vì khi chạy nhảy chơi đùa với lũ bạn, quần cu cậu tụt xuống tận bẹn, đẩy cái đũng quần đến gần đầu gối. Chạy. Xoạc cẳng. Vật nhau. Không toác ra chỉ có…da bò!
 Ngồi khâu lại đau cả tay, tôi mắng nó:
-         Con nghịch vừa thôi, quần áo lúc nào cũng tước ra thế này con không thấy xấu sao?
-         Sao mà xấu hả mẹ?
-         Trời ạ, con mặc thế lòi hết cả chim ra còn gì?
-         Thì sao? Tay, chân, mặt mũi của con cũng lòi ra đó?
 Tôi ngừng tay khâu, nghiêm mặt:
-         Tay chân mặt mũi là khác!
Nó lại vẫn hồn nhiên:
-         Thì nó cũng là một bộ phận của người ta mà, sao lại khác hả mẹ?
 Lúng túng mất một lúc, tôi phải đổi giọng đùa:
-         Nó là chim, mà chim không nhốt kín thì nó bay đi chứ con.
Nó vẫn không chịu:
-         Mẹ nói sai. Chim phải có cánh mới bay được, đằng này nó dính chặt thế, lại đâu có cánh mà bay?
 Kiểu này là không ổn rồi, tôi phải cho nó biết mẹ luôn đúng:
-         Con không nghe người ta hay nói: “ Đẹp phô ra, xấu xa đậy lại” à? Cái ấy nó xấu nên phải đậy lại kẻo người ta thấy, họ cười cho.
Tôi nhìn con, cười. Nó cũng cười, chạy đến ôm cổ mẹ:
-         Mẹ lại không đúng rồi. Bà lúc nào cũng sờ của con và bảo: “Giống quí của bà đây này! Bà sờ tí cho mau lớn!”. Đã quí thì sao lại xấu hả mẹ?
Trời ơi là trời! Con ơi là con! Biết trả lời con tôi sao đây hở trời? Quả thật, xấu xa thì đậy lại, nhưng có những thứ chưa hẳn đã xấu, chắc chắn không xấu, cũng phải đậy lại chỉ vì…không được phô ra. Chỉ vì…phô ra người ta cười! Khổ thế!



Chủ Nhật, ngày 16 tháng 3 năm 2014

CHIA SẺ BỨC XÚC VỚI BÀ CON!

                                                         Vi  Vân Anh

Vân Anh nằm li bì ba ngày nay.
   Em là con của  học trò cũ từ hồi tôi dạy trong trường vùng sâu Châu Thành. Ngày trước, bố nó cũng đã qua một cuộc thi 1 chọi 70 để được ghi tên vào danh sách sinh viên trường Đại học y Hà Nội. Cách đây hơn 3 năm, Vân Anh cũng lọt được vào khối chất lượng cao của huyện trong cuộc thi 350 chọn 60. Một cô bé từ vùng sâu ra, vào lớp sáu với 21 ki lô trọng lượng! Một cô bé luôn hăng hái xung phong phát biểu xây dựng bài mặc cho bạn bè cười ồ lên vì em nói tiếng Kinh trọ trẹ.
  Em giỏi đều các môn, và mặc cho học sinh thị trấn khôn lỏi chỉ thiên lệch một số môn tự nhiên để chọn nghề thì em không lơ là bất kì môn nào trong 11 môn học.
  Vòng thi chọn học sinh giỏi năm lớp tám, em đậu cả toán và lí.
Đầu lớp 9, do một số vần đề tế nhị có liên quan đến con các quan, em buộc phải nhường Toán để thi Sinh và Sử.
Thi 2 lần vòng huyện, em đậu cả 2 môn nhưng thi tỉnh chỉ cho chọn một. Cô Tâm là hiệu phó nên đã “dành” được em để chắc chắn có giải cho môn của mình. Môn Lịch sử là nỗi sợ hãi của bất kì học trò nào thời nay. Em thường thức từ ba giờ sáng để học thuộc một tập tài liệu ôn thi dày gần bằng cuốn từ điển.
 Một ngày trước khi đi Vinh dự thi, trường và phòng tổ chức gặp mặt các em với những gửi gắm, những mong mỏi thiết tha. Các lãnh đạo cũng hứa với phụ huynh là sẽ tạo điều kiện tốt nhất về kinh phí, về tinh thần để các em thoải mái, tự tin làm bài tốt. Cũng đúng thôi,mặc dù trường vừa “rinh” được giải nhì toàn quốc trong cuộc thi “Sáng tạo khoa học”, nhưng kì thi học sinh giỏi tỉnh này mới là cái làm nên cơm cháo trong thành tích năm học, trong việc xếp thứ hạng thi đua cho các phòng GD trong tỉnh.
Cái anh chất lượng đại trà thì chẳng cần bàn. Trên chỉ thị bao nhiêu phần trăm khá giỏi thì dưới thiết kế được ngay. Học sinh lớp 6 chưa biết đọc biết viết vẫn lên lớp như thường, có ảnh hưởng gì hòa bình thế giới? Nhưng cái anh mũi nhọn này thì phải nhọn thật, không lơ mơ được.
  Vân Anh và các sĩ tử khác biết rõ gánh nặng trách nhiệm của mình nên lo lắm. Nhưng trong cái lo cũng có niềm vui vì được về thành phố! Một học sinh dân tộc Thái tận vùng sâu xa như Vân Anh thì sự háo hức lại tăng gấp bội. Em nói với tôi: “ Lần này thì em sẽ được tận mắt thấy cái gọi là siêu thị cô nhỉ? Em sẽ mua một thứ gì đó làm kỉ niệm.”
 Mười hai giờ trưa, xe đón ở cổng trường. Chiều tối hôm sau bố Vân Anh gọi điện: “Em nhờ cô ra đón cháu cho em với nhé.” Chín giờ đêm, tôi mới đón được em, em rũ ra như tàu lá chuối héo.Vân Anh kể:
     -  Cả đoàn có 46 người, nhưng họ hợp đồng xe 24 chỗ, chỉ có  thầy trưởng đoàn là ngồi thoải mái, còn chúng em ép nhau mỗi ghế ba, bốn bạn, các bạn nam thì phải đứng. Tối đó vừa mệt, vừa ồn ào vì  phòng quá đông người nên em không ngủ được. Ăn sáng xong chúng em phải đi bộ đến trường khai mạc. Các bạn đòi bắt tắc-xi nhưng thầy trưởng đoàn bảo phải tiết kiệm. Khai mạc xong về khách sạn rồi đi ăn trưa. Em mệt, định nằm một lúc thì thầy giục: “ Những em thi chiều nay soạn đồ để trả phòng, chiều thi xong ra xe về luôn.” Cả mấy đứa buồn phát khóc! Thế là dự định đi siêu thị tiêu tan! Mười hai giờ bọn em lếch thếch kéo nhau ra trường thi ngồi chờ đến giờ thi, bốn rưỡi chiều thi xong, ra cổng trường lên xe, xe chạy vòng vèo bắt khách mãi, em nôn thốc nôn tháo và mê mết chẳng biết gì nữa.
Tôi hỏi em về bài vở, em tươi lên một chút: “ Em thuộc hết nên làm khá trọn vẹn cô ạ. Có một vài ý nhỏ chưa phân tích rõ, sợ không được giải cao thì thương cô Tâm.” Tội nghiệp em. Dự định của em là theo khối B để thi trường y, em muốn thi Sinh nhưng vì thành tích của trường và của ngành nên chấp nhận thi Lịch sử.
   Em ở nhà tôi hơn ba năm nay, thể lực yếu, tôi chăm chút như con đẻ của mình. Xót ruột, tôi phàn nàn với mọi người. Hóa ra mấy hôm nay phụ huynh cũng đang rất bức xúc về cách đối xử tệ hại của phòng đối với con em họ. Được biết, phòng đã duyệt chi  cho cả đoàn 46 người, tiền ăn ở khách sạn 3 ngày đêm, tiền tắc xi, tiền xe đi về như tiêu chuẩn một cán bộ đi công tác. Nghĩ đến cách  kiếm chác của tay trưởng đoàn kia mà phát ớn!


Thứ Sáu, ngày 14 tháng 3 năm 2014

QUỲNH



XEM QUỲNH NỞ

Nuột nà từng cánh khẽ khàng phô
Trời đêm bỗng hửng sáng bao giờ?
Đung đưa nhè nhẹ, êm... êm quá
Thoang thoảng hương bay thơm ngẩn ngơ!
                                                                       NT

HỎI QUỲNH
   Muôn loài rực rỡ buổi bình minh
Nhờ ánh mặt trời tô điểm thêm
Sao em lặng lẽ trong đêm vắng
Âm thầm khoe sắc, nhẹ tỏa hương?
                             NT

 

Thứ Ba, ngày 11 tháng 3 năm 2014

HOA MUỘN (tiếp theo và hết)

Nhờ được mẹ khéo chăm chút, Nụ dần có da có thịt. Trên đôi má mịn màng đã lấy lại sắc hồng mơn mởn. Duy chỉ có đôi mắt vẫn thẳm sâu một nỗi buồn chất chứa.
   Cuối những bức thư nặng trĩu niềm thương nỗi nhớ của anh bao giờ cũng có dòng khẩn nài: “ Ngàn lần anh mong em tha thứ, em yêu! Lúc nào về, anh sẽ bù đắp cho em, em nhé.”. Nhưng tất cả rơi tõm trong sự im lặng.
  Hai năm sau, Nụ lên xe hoa. "Cách đây ba năm, tai nạn giao thông đã cướp đi người vợ trẻ cùng đứa con chưa kịp chào đời của anh." “Thôi thì hãy lấy nghĩa tình  mà vá víu nỗi buồn cho nhau.”
 Nụ tặc lưỡi.
Thế mà, từ bấy đến giờ, hơn mười năm trôi qua, Nụ cứ khô dần đi như cái cây không còn đủ sức hút mỡ màu từ đất.Y học đã bó tay. Chùa nào thiêng, vợ chồng đều đến. Đền nào nổi tiếng, xa mấy Nụ cũng chẳng ngại ngần,chỉ mong sao được nghe một tiếng gọi “ mẹ” ngọt ngào từ môi trẻ. Chồng Nụ  lặng lẽ thở dài: “Âu cũng là số phận”.
  Anh trở về khi mọi sự đã rồi. Không trách cứ. Không thở than. Sau khi xây nhà cho bố mẹ, anh cưới một cô vợ trẻ ít hơn mình đến gần chục tuổi. Ở nhà hơn một năm,anh cứ lặng lẽ thế. Gặp nhau, hai người gật đầu rồi đi qua.
  Con gái đầy tháng, anh lại bay.
   “ Gái một con trông mòn con mắt”. Quả thật, cô vợ của anh bước vào tuổi mười chín, da thịt cứ căng lên, chỗ nào trên cơ thể cũng tròn đầy, màu mỡ. Đôi mắt lá răm lúng liếng sóng sánh nước. Tính tình xởi lởi, phóng khoáng nên bạn bè cô nhiều lắm. Để tránh bà mẹ chồng khó tính, họ không dám tụ tập tại nhà cô mà thường rủ nhau đi chơi đâu đó. Lúc đầu chỉ tuần vài lần, sau thì gần như đêm nào cũng đi. Mẹ chồng nhắc: “Gái có chồng, phải biết giữ gìn ý tứ, không bay nhảy thoải mái như đám thanh niên được đâu.” Cô cong cớn: “ Thanh niên thì chúng cũng chỉ bằng tuổi con. Tại mẹ giục quá nên mẹ con mới gả con sớm thế. Ra đường, nhiều anh còn tưởng con là gái tân đấy mẹ ạ. Vậy mà  phải lấy một anh chồng già, lại phòng không gối chiếc. Con là thiệt thòi nhất đấy!” “ Thiệt thòi cái nỗi gì hả cô - giọng mẹ chồng đã có chiều bực bội - Lấy chồng, có nhà cửa đề huề, ăn sung mặc sướng, hàng tháng lên ngân hàng nhận tiền, con thì tôi chăm cho từ đầu đến cuối. Cô còn đòi gì?”Cô con dâu cười khì khì: “ Thế cũng chưa sướng, có cái còn sướng hơn cơ”, rồi bỏ đi ra ngoài, mặc mẹ chồng bực bội, lẩm bẩm chửi một mình.
 Tai hoạ thực sự đến khi cả làng xôn xao: “ Cô con dâu nhà bà Tám ôm hết tiền theo trai ”.
   Chửi rủa. Tìm kiếm. Cuối cùng bà Tám đành ôm đứa cháu hơn một tuổi mà khóc. “Nhục quá con ơi! Đời tôi sao lại đến nông nỗi này hả trời?”
Nhưng trời thì vẫn xanh màu xanh muôn thuở, chỉ có ông Tám thay đổi: ông nằm liệt giường sau cơn tai biến mạch máu não.
  Con khóc gào gọi mẹ. Bà khóc thầm gọi trời. Ông nằm nhìn trân trối lên trần nhà, vô cảm.Căn nhà rộng thênh thang lạnh tựa nhà mồ.
Được tin, anh về nước. Vẫn lặng lẽ không một lời trách cứ, không một tiếng thở than.Bố anh trút hơi thở cuối cùng.  Mọi người khóc lóc thảm thiết, anh lặng im.
   Mấy tháng sau, nhiều người trong làng cũng không còn nhận ra anh nữa: Khuôn mặt hốc hác, già như một ông cụ ngoài bảy mươi, đầu tóc bù xù, dính đầy bùn đất, quần áo tả tơi, trong tay cầm cây gậy, vạch vệ cỏ bên đường như đang tìm kiếm một vật gì bị mất. Gặp ai, anh cũng nhìn rồi cười hềnh hệch, chẳng nói gì.
  Chục năm nay, người làng đã quen với hình ảnh ấy. Có người thở dài xa xót, có kẻ chì chiết cay độc: “Đời cha ăn mặn, đời con khát nước”

           Một quá khứ tưởng đã ngủ yên bỗng hôm nay  thức dậy cồn cào, cuộn xoáy trong lòng Nụ. Cô vùng dậy, dắt xe ra, phóng đi.Gặp hai bà cháu giữa đường, Nụ cúi xuống, lấy hai bàn tay ấp vào đôi má chín lựng của con bé:
 -  Ngày mai con mang sách vở đến học, nhớ chưa?
Con bé lí nhí :
-         Dạ. Con nhớ rồi!
Vì nó quá yếu, kiến thức hổng nhiều nên Nụ bảo bà cho cháu ở lại nhà cô. Ngày   Nụ cho học cùng với lớp, đêm cô kèm thêm. May là nó cũng khá sáng dạ, chỉ vì ở tiểu học đi học bữa đực, bữa cái nên mới thế. Đêm, Nụ ôm con bé vào lòng, ngửi mùi tóc khét nắng của nó mà trỗi lên một niềm thương, một nỗi đau, một sự xót xa khó tả. Nước mắt Nụ rơi trên má nó...
“ Ở nhà con ít tắm rửa, gội đầu, đúng không? Tóc tai gì mà rối mù thế này?” Vừa tắm và gội đầu cho con bé, Nụ vừa hỏi bằng giọng xót xa. “ Bà bảo phải tiết kiệm đó cô, mỗi tháng chỉ gội đầu hai lần thôi, tốn lắm.” “ Trời ạ, để rồi cô mua cái lược dày chải chấy cho con, chấy nhiều thế bạn không muốn ngồi gần đâu, nghe chưa?” Hai ngày một lần gội, tóc con bé đã có vẻ mượt ra, chấy cũng bớt đi nhiều. Nhìn nó xúng xính trong bộ đồ mới mà Nụ mua cho, cô thấy lòng mình ấm lạ.
   Bà Tám nhờ người mang đến khi thì mớ lạc, khi vài cân đỗ xanh. “ Ơn nó tôi chẳng biết trả bao giờ cho hết!”, bà thường rơm rớm nước mắt nói với mọi người như thế.

  Niềm vui bất ngờ đến với ta thường làm ta khó mà nghĩ rằng đó là sự thực. Nụ đã tưởng như mình đang bay trong mơ khi bác sĩ đã từng khám cho cô trước đây khẳng định cô đã có thai: “Tử cung của cô  như một bông hoa bị héo đi, khô quắt lại, nay nó đã hồi sinh. Hiện tượng này, trong hơn hai chục năm làm nghề y, tôi mới gặp vài lần. Chúc mừng cô!”
   Nụ oà khóc. Khóc nức nở. Khóc như đứa trẻ mất mẹ lâu lắm nay bỗng nhiên mẹ xuất hiện trước mặt mình. Chồng cô cũng ôm vợ nghẹn ngào: “Trời xanh còn có mắt, em ơi !”Cô bé ngước mắt hồn nhiên cười:
-         Ơ, thế thì vui quá! Con sẽ được bế em, đúng không cô?
 Nụ ôm bé vào lòng, vuốt nhẹ lên mái tóc thơm thơm của nó:
-         Ừ, con sẽ bế em. Hai chị em con phải thật yêu thương nhau, nhớ chưa?
Bé nép vào ngực Nụ đáp nhỏ:
- Dạ, con nhớ rồi!
                                                                               

Chủ Nhật, ngày 09 tháng 3 năm 2014

HOA MUỘN

                             ( Truyện ngắn của Nhật Thành)

   Đã quá nửa tháng sáu. Hơn một giờ chiều, không khí oi nồng ngột ngạt đến là khó chịu. Ngồi trong nhà, Nụ có cảm giác như đang ở trong một nồi hấp khổng lồ. Chiếc quạt điện, công cụ làm mát duy nhất, cũng đang phả ra những luồng gió nóng hầm hập. Nụ bật dậy, mở cửa bước ra ngoài. Lửa từ trên trời đổ xuống, tràn lênh láng trên đường nhựa, chảy theo những ngõ xóm lát bê tông. Cây cối đừng im lìm chịu trận.Thật vắng lặng. Một tiếng gà trưa cất lên rồi chìm ngay vào biển lửa khổng lồ...
  Đang định quay vào, Nụ bồng thoáng nghe một tiếng gọi ngập ngừng.
-         Cô ơi...
Nụ bước ra, nheo mắt lại vì nắng.
Đứa cháu khoảng mười một, mười hai tuổi, nắm chặt lấy tay bà, khuôn mặt chín như gấc. Còn người bà, bối rối bỏ nón cầm tay, nhìn Nụ như kẻ có tội:
-         Tôi ...bà cháu tôi ...xin đến nhờ cô...
Nụ nắm lấy bàn tay gầy guộc của bà, gần như kéo cả hai bà cháu bước qua khỏi cánh  cổng sắt:
-         Nhờ gì thì cũng vào trong nhà đã nào ! Đứng đây để nướng cho chín à?
   Họ vào trong nhà. Không khí đặc quánh lại trong cái nóng nồi hấp.
Cô bé cúi mặt, vân vê tà áo quăn queo . Bà cụ lại ngập ngừng khổ sở:
-         Chả là năm nay cháu nó đã lên lớp sáu...Thực sự thì...Thôi thì mọi sự nhờ cô...mong cô rộng lòng...Tôi....tôi...
-         Xin cho nó học thêm chứ gì? - Nụ cắt lời, đứng dậy rót  nước,trong lòng đã bắt đầu thấy chống chếnh.
-         Vâng, mong cô rộng lòng giúp cho. Nó giờ như trẻ mồ côi, tội lắm!
 Tim Nụ như bị ai đó nắm chặt, không đập được nữa. Nụ muốn nói một câu gì đó để phá tan bầu không khí nặng nề này, nhưng cổ họng nghẹn ứ. Mắt Nụ mờ dần đi, hai giọt nước lăn nhanh trên má.
  Không khí ngột ngạt. Đứa bé sợ hãi nhìn Nụ, nắm chặt tay bà:
-         Thôi, cháu không học đâu. Về đi bà!
Người bà uể oải đứng dậy, nói trong nước mắt:
-         Tôi cắn rơm cắn cỏ, ngàn lần mong cô tha thứ... Đáng lẽ tôi không nên ...Thôi, bà cháu xin phép cô...
 Nụ chẳng nói được gì, thẫn thờ nhìn theo bóng dáng liêu xiêu của hai bà cháu ngập trong cái nắng trưa hè.
 Trở vào nhà, nằm vật ra giường, câu nói của bà cụ như vẳng lại từ một quá khứ xa xôi: “ Ngàn lần mong cô tha thứ...Ngàn lần mong em tha thứ...” Sao mà mẹ con nhà họ nói giống nhau đến thế?
   Ngày ấy, bước sang tuổi hai mươi, Nụ đã là cô giáo. Ra trường, Nụ được phân về công tác tại một  ngôi trường  chỉ cách nhà có hơn mười cây số.
Thứ bảy, bầu trời hình như xanh hơn, gió hình như mát hơn, ngay cả đám mây cũng trôi nhẹ nhàng hơn. Thứ bảy, đêm hình như ngắn lại. Thứ bảy, cô giáo Nụ trở thành cô bé dễ thương với hai bím tóc dài mượt được tết gọn, thả từ bờ vai tròn chảy xuống gò bồng đảo thanh tân đang phập phồng trong làn áo mỏng. Mỗi tuần, anh và Nụ chỉ có một đêm dành cho nhau. Chiều chủ nhật anh đã phải đi. Biết làm sao được. Cơ quan của anh thì ở xa...
  Gom thương góp nhớ suốt cả tuần nhưng khi gặp nhau, anh chẳng nói gì nhiều, chỉ nhìn sâu vào mắt người yêu. “Sao anh nhìn em khiếp thế? Một tuần gặp nhau, em lạ lắm sao?” “Anh muốn soi mãi bóng mình trong đó để hình bóng anh luôn trong mắt em.”  “Ngốc ạ. Em phải cất giữ hình anh trong tim chứ. Để trong mắt, người khác nhìn vào thấy đẹp trai quá rồi lại yêu mất thì sao?” “Ừ nhỉ, nhất là yêu bộ đồ xanh công nhân này này!”
Cả hai cùng cười. Rồi im lặng. Triệu triệu vì sao trên trời nhấp nháy theo từng nhịp đập của hai  trái tim đang yêu.
  Anh hơn Nụ ba tuổi, nhà ở ngay xóm trên. Vốn là bạn chăn trâu từ nhỏ, Nụ mến anh vì luôn được anh bênh vực mỗi khi có “nội chiến” trong đám trẻ chăn trâu.Càng lớn, Nụ càng xinh đẹp, một vẻ đẹp đài các, khác hẳn với đám bạn trong làng.
  Xóm nông trang của Nụ ngày ấy thường con cái chỉ học xong cấp hai là nghỉ. Thứ nhất, vì trường cấp ba quá xa. Thứ hai, đất sản xuất thì nhiều, lại chủ yếu là đất khô, làm màu, công việc đồng áng gần như quanh năm không bao giờ hết. Thế là, thay cho ngày hai buổi mài đũng quần trên ghế nhà trường, các cô cậu tuổi mười lăm, mười sáu đua nhau mài đũng quần trên nương ngô, bãi lạc.Nghỉ học sớm, rồi đua nhau lấy vợ lấy chồng từ lúc mười sáu, mười bảy tuổi.
 Anh xin bố mẹ cho học lên, rồi đi trung cấp cơ khí. Lúc anh đi học nghề, Nụ bắt đầu vào cấp ba. Anh ra trường đi làm, Nụ vào sư phạm. Kể cũng lạ, suốt mấy năm học ở trường, Nụ bỏ ngoài tai những lời tán tỉnh, dửng dưng trước mọi sự quan tâm của các  chàng trai, đến nỗi, họ đặt cho Nụ cái biệt danh: “tim gỗ”. Vậy mà trái tim gỗ ấy đã rung lên khi nghe lời tỏ tình vụng về của anh công nhân trong hè cuối cùng chuẩn bị làm cô giáo.Yêu nhau đã khá lâu, nhưng anh vẫn không dám tiến xa hơn ngoài cái nắm tay thật chặt trước khi ra về. Nụ còn nhớ, đêm ấy trăng sáng lắm. Trăng thả sợi vàng xuống mặt ao, trăng dát ánh bạc lên vòm lá, ánh trăng lả lơi cùng gió đùa giỡn trong vườn ngô.
-         Thôi, khuya rồi, về đi anh!
 Anh lại nắm chặt tay Nụ, nhìn sâu vào đôi mắt người yêu:
-         Em, trong bài  hát “ Tình yêu bên cửa sổ” có câu: Tạm biệt rồi còn đọng lại những...”
Nụ trừng mắt. Anh vội nói thật nhanh:
-         Tạm biệt rồi,còn đọng lại ánh mắt em. Thôi, anh về đây.
 Vào giường nằm, Nụ  bật cười một mình. Anh chàng cũng láu cá thật!
    Thế rồi , hè năm ấy, anh quyết định đi xuất khẩu lao động. Trong thời gian chờ học tiếng trước khi bay, hai đứa cùng đi xem phim, xem ca nhạc. Những đêm ngồi bên nhau khuya hơn.Nghĩ đến ba năm đằng đẵng, lòng cả hai đều trĩu nặng. “Thôi, phải bứt phá em ạ. Lương nhà nước ba cọc ba đồng, đến khi nào cho đủ ăn, đừng nói là làm giàu. Thời buổi này, nghèo quá người ta khinh. Lúc về, có vốn, anh mở xưởng hẳn hoi. Em ở nhà quản lí công nhân cho anh, anh trả gấp mười lương dạy học của em”. “Thôi đi ông tướng. Đi thì cứ biết đi. Ai biết về có còn là của em không.” “Anh chỉ sợ em thay lòng đổi dạ. Còn anh, mãi chẳng bao giờ hết yêu em !”
 Anh quàng tay, ghì chặt Nụ vào lòng, môi tìm môi, gắn chặt.
  Khi bắt đầu vào năm học mới cũng là lúc anh đi Hà Nội học tiếng. Vì bận chuẩn bị khai giảng, Nụ ở lại trường ngày chủ nhật. Anh xuống, hai đứa đã thức trọn đêm bên nhau. Nụ đã trao anh tất cả. Tự nguyện hiến dâng, không nuối tiếc. Anh đã khóc. Những giọt nước mắt biết ơn. Những giọt nước mắt thương yêu. Những giọt nước mắt của niềm hạnh phúc...Nụ còn nhớ, mẹ như ngất đi khi phát hiện lông mày con gái dựng ngược lên, nước da xanh tái.Kinh nghiệm và linh tính của người mẹ đã làm bà đứng không vững nữa, giọng lạc hẳn đi:
-         Chết thật rồi con ơi! Có phải con đã...
-         Sao hả mẹ? - Nụ lo lắng nhìn mẹ.
 Mẹ khuỵu xuống, mặt cắt không còn giọt máu:
-         Hỏng rồi con ơi! Con bôi tro trát trấu lên mặt bố mẹ rồi!
Hoảng hốt, Nụ gọi anh về. Anh quyết định ngay:
-         Thế càng tốt, anh sẽ bảo bố mẹ đến dạm hỏi và cưới ngay trước khi anh đi.
“Vợ con gì? Dẹp! Làm thằng đàn ông phải biết lo sự nghiệp trước đã. Anh định lo cưới vợ rồi bỏ lỡ mất chuyến đi này sao? Anh có biết mẹ phải chạy vạy, lạy lục người ta khổ sở như thế nào mới vay đủ tiền cho anh đi không?” Mẹ đã quát lên như thế khi nghe anh đòi cưới vợ.
-         Nhưng cô ấy đã....
-         Biết rồi, nó có thai chứ gì? Bảo nó phá đi. Hết bao nhiêu tiền mẹ lo !
-         Con xin mẹ ! Mẹ đừng nói chuyện thất đức ấy. Con của chúng con có tội gì đâu!
  Mẹ anh vẫn kiên quyết:
-         Nghe hay không thì tuỳ. Mẹ chưa thể làm đám cưới cho anh được.
-         Được, vậy con cũng có quyền của con. Con sẽ không đi xuất khẩu lao động nữa.
Biết tính anh con trai út, mẹ hạ giọng:
-         Thôi, để mẹ tính.
Theo kế hoạch của mẹ, anh vẫn tiếp tục học tiếng cho xong, ở nhà mẹ lo liệu các thứ rồi trước khi bay, làm thủ tục cưới nhanh, chủ yếu báo với bà con xóm giềng, ở nhà mẹ có trách nhiệm chăm cho hai mẹ con. Khi nào anh về, sẽ làm đám cưới thật to.
  Anh trình bày kế hoạch của mẹ với gia đình Nụ. “Thôi, lỡ thì theo sự lỡ vậy. Con cái khôn ba năm dại một giờ, biết làm sao!”-  Mẹ Nụ thở dài, nói với chồng.
  Còn hai ngày nữa anh kết thúc đợt học tiếng . Đang nóng lòng chờ anh thì mẹ anh xuống tận kí túc. Nụ ngạc nhiên:
-         Ô, bác ! Bác xuống có việc gì thế ạ?
-         Cháu khoẻ không? Bác cắt được chén thuốc dưỡng thai, nghe bảo uống tốt lắm. Nồi đâu, bác sắc cho.
Nụ cảm động:
-         Cháu cảm ơn ạ. Bác chu đáo quá ! Thôi, bác cứ để đó, tối cháu sắc cũng được.
-         Người ta dặn phải sắc đúng cách, cháu ạ. Để cháu làm bác không yên tâm. Thôi, lấy nồi đây cho bác.
Mùi nước thuốc hăng hắc, nhưng nghĩ đến tấm lòng mẹ chồng tương lai, Nụ cố uống một hơi hết cả bát cho mẹ vui lòng.
  Tối ấy, đang ngủ, Nụ bỗng thấy bụng nhói đau. Rồi cơn đau ngày một dữ dội. Nụ gọi cô đồng nghiệp phòng bên cạnh. Khi chạy sang, Minh kinh hoàng: giường chiếu, chăn màn bê bết máu. Cả kí túc náo loạn lên. Kẻ chuẩn bị xe, người thu dọn đồ đạc đưa Nụ đi cấp cứu.
 Anh về. Chết lặng khi nhìn thấy người yêu đang chìm mê mệt trên giường bệnh.
Đám cưới đã không diễn ra.
Người ra đi mang theo nỗi đau không thể sẻ chia.Người ở lại ôm nỗi buồn một mình cay đắng.Hai gia đình trở thành kẻ thù của nhau...
“Ừ, bà cho nó uống thuốc phá thai đấy, thì sao nào ? Cháu bà, bà không muốn nuôi thì bà phá. Nó định dở bài dùng con để cản trở sự nghiệp của con trai bà ư? Đừng hòng! Mẹ con nhà bà cũng đừng ngồi đó mà chờ hưởng của. Bà mất gần trăm triệu bạc, chẳng lẽ khi về, nó đem vun vén cho vợ con nó sao? Thôi, con gái có thì, tuổi nó cũng kha khá rồi đó, xem chỗ nào vừa đôi phải lứa thì gả đi. Bằng tuổi ấy, con nhà người ta đã tay bồng, tay dắt rồi đấy.”
“Đồ giết người! Quân ác nhân! Bà cầu cho trời tru đất diệt nòi giống nhà mày. Con bà dù có hoang thai năm lần bảy lượt, bà cũng không thèm gả cho nhà mày, biết chưa? Hả?”
   Nụ chết lặng đi trước cuộc đấu khẩu rợn người.

                         (còn nữa)

Thứ Năm, ngày 06 tháng 3 năm 2014

LÀ EM!


Trước hết xin mở ngoặc để chú giải đôi điều với mọi người thế này:
 Tôi có nhận được qua mail một bài thơ không có nhan đề, từ một địa chỉ lạ và  kí tên là Bạn blog. (Tôi nhớ có lần mình ghi địa chỉ mail cho cháu ở trên blog này)Xét thấy cũng không cần truy tìm thủ phạm làm gì vì tôi nhận ra rằng, người này rất biết nghe lời vợ: “ Anh ra ngoài vui vẻ tí chút cũng được nhưng đừng để lại dấu vết.” Thế cũng đủ tiêu chuẩn một ông chồng ngoan rồi, đúng không chị em? Hơn nữa, họ đã cố tình dấu tên, dấu mặt thì tìm làm gì cho…tội người ta! Tôi cop nguyên bài thơ như sau:

Em- trái cây bốn mùa.
Trái chín màu cam, hồng, vàng hay tím?
Là thỏ, là nai, sư tử hay nhím?
Hội tụ đủ đầy vào cây bút văn xuôi.
Anh - cứ lửng lơ trên chín tầng mây.
Chẳng nhìn rõ mầu gì dưới đất
 Như thấy bói xem voi, cứ tin là thật
Em cho anh hay- bài học nhìn đời
Anh ứơc gì viết được truyện ngắn
 Người ơi!
                         ( Bạn blog)
 Và nhân dịp ngày QTPN, tôi xin được trả lời trên blog này, câu trả lời không chỉ cho tôi mà cho nhiều chị em phụ nữ nói chung. Câu trả lời có tí chua của dấm, tí cay của ớt, tí chát của sung và tí đắng của…thuốc phiện!

LÀ EM
(Nhật Thành)
Em – trái cây bốn mùa đong đầy mật ngọt
Vườn rào thưa lấp ló trên cành
Người qua đường liếc mắt sang ngang
Trái vẫn ửng chờ người quân tử.
                     
Có khi em là con nai nhỏ
Ngước mắt nhìn ngưỡng mộ một tài năng
Kẻ phàm phu  dám động vào em
Em sẽ dựng lông như là chú nhím
Dành cho Người tấm chân tình sâu nặng
Nên dễ thành sư tử lúc hờn ghen.

Em cuối cùng rồi cũng chỉ là em
Biết thân phận, biết hơn – thua, được – mất.
Biết rất rõ giữa cuộc đời cay cực
Tìm được người tri kỉ khó bao nhiêu!
Chúc tất cả chị em phụ nữ chúng mình: TỰ TIN – TỰ TRỌNG – TRUNG HẬU – ĐẢM ĐANG.
Mong phái mạnh trong dịp này hãy biết giả vờ thua để làm đẹp lòng phái yếu!


Chủ Nhật, ngày 02 tháng 3 năm 2014

CON BƯỚC VÀO TUỔI MƯỜI LĂM (Tặng con gái yêu)

(Diệu Thùy)
Con bước vào tuổi mười lăm
Bầu trời trong mắt con trong ngần đến lạ!
Đám mây trong mắt con bồng bềnh trôi nhẹ
Biển cả trong mắt con sóng gợn lăn tăn.

Con bước vào tuổi mười lăm
Tiếng chim hót véo von trong vòm lá
Tiếng sáo diều vi vu trong trẻo quá!
Tiếng ong bay như nhạc của hoa thơm.

Con bước vào tuổi mười lăm
Cánh chim ngang trời chở theo mơ ước
Ngọn gió thênh thang vén mây phía trước
Nhìn tương lai sáng dịu tựa trăng rằm.

Con bước vào tuổi mười lăm
Nhắc mẹ nhớ một chồi bàng xưa cũ
Chồi bàng trong tim từ lâu yên ngủ
Bỗng cựa mình bung lá biếc tươi non!

Con bước vào tuổi mười lăm…


(Cùng bạn Vân Anh)

                                                               (Mèo)

                                                    (Các mèo trong lớp)

Thứ Năm, ngày 27 tháng 2 năm 2014

MỘT CUỘC KIẾM TÌM

Chiếc xe lăn bánh qua thị trấn. Ngắm nhìn nhà cửa cao tầng san sát, cửa hàng, cửa hiệu la liệt hàng hoá lướt qua cửa sổ xe, chị bắt chuyện:
- Cha ông ta bảo: “Đi ra biết đó biết đây”. Quả thật, lâu nay tôi cứ tưởng miền núi chỉ có rừng rú, dân sống trong thung, cheo leo trên sườn núi, ai ngờ ở đây còn sầm uất hơn cả thị trấn quê tôi.
-         Bác quê ở đâu? Lên đây có việc gì thế ạ?
Chị chưa kịp trả lời thì chiếc xe phanh kít lại. Tài xế mở nhanh cửa xe, nhảy xuống:
-         Bác có sao không? Sao bỗng nhiên lại lạng vào đầu xe thế? Thật hú vía!
   Ngay đầu xe, một người đàn bà đã luống tuổi ngã sóng soài. Đầu tóc, mặt mũi, quần áo ướt bê bết: sợi phở, lòng gà sống, cà chua, rau, cơm...dính khắp người trông phát khiếp. Bên cạnh là chiếc xe đạp cà tàng và cái xô nhựa đã vỡ, chảy lênh láng một thứ nước hồn hợp, trơn nhầy những dầu mỡ, thức ăn thừa...
 Lấy ống tay áo quệt ngang mặt, người đàn bà ngồi dậy, vẫn chưa hết run:
-         Tại cái xô nặng quá, lại bị lệch...Tôi luống cuống, tôi xin lỗi...Cũng may cháu phanh kịp, nếu không thì...
 Loáng cái, những người hiếu kì đã vây kín.
-         Gì thế? Tai nạn à?
-         Giữ xe lại, gọi cho công an đi.
-         Phóng nhanh vượt ẩu cho lắm.
Một cô gái lách đám đông vào, hốt hoảng:
-         Bác Thơm, bác có sao không?
-         Không...Bác không sao đâu ! - Người đàn bà ngượng ngiụ
  Vừa lúc, chiếc xe máy rồ tới. Một người đàn ông đầu tóc tốt rợp, quần áo nhàu nát, bẩn thỉu như cái xe của hắn, nhảy lại như con thú dữ:
- Con mụ kia! Lại làm sao nữa thế này? Chán sống hả? Chết được thì chết vứt đi cho ông nhờ! Đồ ăn hại !
Vừa nói, hắn vừa lôi xềnh xệch người đàn bà tội nghiệp vào vệ đường, mỗi câu, một cú đá. Mắt hắn vằn đỏ.
Mọi người xông vào, lôi hắn ra.
-         Sao bác đánh vợ vô lí thế? Bác ấy không may ngã  trước xe tôi...
Hắn sừng sộ, nhe hai hàm răng vàng xỉn với những chiếc răng to gớm ghiếc:
- Mày làm mụ ngã chứ gi? Đền đi, đền nhanh!- Hằn hét lên, nắm lấy cổ áo tài xế.
  “ Tránh voi chẳng xấu mặt nào”, nghĩ vậy, tài xế móc túi đưa hắn tờ năm trăm. Hắn cười nham nhở, lên xe, quay sang người đàn bà:
-         Không về còn ngồi đó mà ăn vạ à?
 Nói rồi, hắn  rồ máy phóng đi.Mọi người lắc đầu nhìn theo,ngán ngẩm.
Chị bước lại gần người đàn bà tên Thơm, nhẹ nhàng:
-         Thôi, chị về tắm rửa thay đồ đi.
Chiếc xe tiếp tục lăn bánh.
” Chao ôi là thân phận đàn bà ! Không có chồng cũng khổ, nhưng có chồng chắc gì đã sướng?”. Chị xót xa nghĩ thầm.
   Con đường lại ngoằn ngoèo chạy như lách trong những dãy núi trùng điệp, nhấp nhô. Chị phóng tầm mắt ra xa. Cả một vùng rừng bạt ngàn keo. Núi này nối tiếp núi kia một màu thẫm xanh  chạy mãi tới cuối chân trời. Phá rừng rồi trồng rừng. Con người có thể phá đi tất cả và  cũng có thể tái lập tất cả. Muôn đời muôn kiếp rồi vần thế.
   Người phụ xe quay lại, chắp nối câu hỏi đang dang dở:
-         Bác lên đây có việc gì thế ạ?
-         Ừ... à...tôi tìm một người quen.
-         Bạn cũ hả bác? Hay anh em?
Biết trả lời sao cho đúng? Bạn cũ ư? Đã gặp nhau bao giờ đâu mà bạn? Anh em cũng không phải. Người âý chẳng máu mủ ruột rà gì cả, nhưng ... chẳng lẽ lại nói: Tôi đi tìm một người chưa hề quen biết !?
 Thấy khách không nói gì, người phụ xe cũng không tiện hỏi thêm.
 Càng đi, con đường càng quanh co, dốc nối dốc. Chiếc xe hết lắc bên này lại đảo bên kia. Chị khấn thầm: “Anh sống khôn chết thiêng, phù hộ độ trì cho em có đủ sức khoẻ và sự minh mẫn để tìm ra người ấy!”
    Chẳng biết do lời khẩn cầu hay do những viên thuốc chống say xe mà chị vẫn tỉnh táo suốt cả chặng đường dài.
   Xe dừng lại ở một bản nhỏ. Khác với những hình dung của chị, ở đây thật hiếm thấy những ngôi nhà sàn . Thay vào đó là những căn nhà khá khang trang: tường sơn, ngói đỏ. Một dãy quán cũng bán đủ các loại hàng hoá từ quần áo, giày dép, xô chậu đến cái kim, ống chỉ, đồ trang sức...
- Đây là địa điểm bác cần đấy ạ.- Phụ xe vui vẻ - Xe chúng cháu còn lên một quãng nữa rồi mai quay về.
- Bác cảm ơn hai cháu nhé. - Vừa nói, chị vừa xách chiếc túi du lịch bước xuống. Chiếc xe lại ì ạch bò lên con dốc cao, để lại phía sau một đám bụi dày đặc.
-         Ở đây có gì ăn được không cụ?Chị ngồi xuống ghế cạnh chiếc bàn tre nhỏ.
-         Mì tôm thôi! - người chủ quán  già nhưng trông còn nhanh nhẹn, đáp cộc lốc.
-         Thế thì cụ  cho con một bát.
Đã xế chiều, cái nắng của những ngày đầu thu vẫn còn đượm lắm. Cả một vùng đồi núi trước mặt nham nhở, lở loét trông thật thảm hại. Những thửa ruộng bậc thang hình như đã bỏ hoang lâu ngày, hoa cỏ may xơ xác, phơ phất trong gió chiều nhẹ thổi.
-         Cụ cho tôi hỏi, bản này có một người miền xuôi lên đây, tên là Thơm không ạ?
Bà cụ nói giọng kinh khá sõi, nhưng chầm chậm từng tiếng:
-         Người miền xuôi lên đây thì thiếu gì. Lên buôn bán, lên làm quặng, lên làm thuê. Họ ở đầy trong bản ta đó.
-         Nhưng người này lên đây lâu lắm rồi, phải đến mấy chục năm...
- Tên Thơm à ? Già rồi chứ gì? Thế thì ta biết. Ai trong bản này mà chẳng biết mẹ con nó. Nhưng nó ra ngoài thị trấn được hai năm rồi. Nhà nó trước ở trên đồi kia kìa !
 Chị nhìn theo tay chỉ. Một khu đồi lởm chởm đất đá. Những đụn đất từ lòng đồi đào lên đỏ lòm như máu.
-         Ra thị trấn rồi à ? Thế mà tôi lại từ thị trấn vào đây tìm…
-         Ừ, thì mai lại theo xe mà ra thôi, tối nay vào nhà ta ăn cơm, ngủ lại, ta không lấy tiền đâu mà lo. Chị là thế nào với nó ?
-         Dạ, tôi là…một người cùng quê.
  Chị theo cụ về ngôi nhà sàn duy nhất của bản. Những cây cột lim to như cột đình, vách nhà thưng gỗ rất cầu kì, sàn cũng lát bằng một thứ gỗ thật đẹp. Đêm ấy, khi bản làng đã chìm vào giấc ngủ, giọng kể chuyện của cụ vẫn đều đều như tiếng vọng từ một quá khứ xa xăm…
- Nó lên đi làm thuê. Ai thuê gì cũng làm: phát rẫy, cấy lúa, rào nương…Cái bụng nó thì càng ngày càng to. Nó siêng năng, thật thà nên cả bản ta ai cũng thương. Nó ở nhà này ít lâu lại chuyển sang nhà khác. Khi không có việc làm, người ta cũng nuôi. Hôm ấy, nó đi bắt con hến ở ngoài khe (cái khe  bây giờ đỏ lòm thế nhưng trước đây nước trong lắm, cá nhiều, ốc hến cũng nhiều), thế là nó đẻ con rơi ngay trên bãi cát, ta đi rẫy qua trông thấy, gọi người ra bế cả hai mẹ con về.Mẹ thì ướt như con chuột, còn đầu thằng bé dính đầy cát với cỏ rác…
 Lặng yên. Thời gian như ngưng lại. Chị nóng lòng giục:
-         Thế rồi sao? Thằng bé có sống được không?
- Sống chứ! Nó như cây măng rừng, đã chồi ra khỏi đất rồi thì cứ thế mà trỗi dậy, vươn thẳng lên bầu trời để tắm cái nắng, cái gió của ngàn xanh. Hồi đó bản ta còn đói lắm. Ông trời nhiều năm nổi giận, không cho mưa xuống, cây lúa trên rẫy không ra bông được. Con nít bản ta mới sáu, bảy tuổi đã biết cầm con dao, cái xuổng vào rừng đào củ mài, kiếm măng đắng.  Nó đẻ vào cái dịp đói, chỉ có ít ngô thôi. Thằng bé được ăn ngô từ khi mới lọt lòng...
  Cụ lại ngừng lời. Kí ức một thời nghèo đói ùa về. Cụ muốn lặng sống với nó để thương cho một quãng đời lam lũ, cơ cực đã đi qua nhưng không dễ gì quên. Còn chị, hình ảnh một đứa bé đỏ hỏn, ướt át như con chuột con được ủ trong tấm vải dệt thô cứng mà ấm áp tình người ấy cứ ám ảnh trong đầu. Đêm lại lặng lẽ trôi trong giọng kể đều đều của cụ:
- Thế mà nhờ trời, hai mẹ con đều khoẻ. Con nó được một tháng thì bản dựng cho ngôi nhà tranh trên đồi đó. Người trong bản có gì ăn cũng đều cho hai mẹ con: bắp ngô, củ sắn, vắt xôi, hay có khi chỉ là bát canh rau rừng bỏ thêm con ốc, con cua. Ta đến thăm nó thường xuyên. Nó khóc và bảo: “ Tôi làm phiền bà con bản ta nhiều lắm. Chẳng biết khi nào cho hết khổ...” Ta nói với nó: “ Mày đã thành người của bản ta rồi, phải học cách sống của người Thái thôi. Khổ mà không kêu thì không thấy khổ, muốn nước mắt không rơi thì đừng có khóc. Thế đấy”. Nó nghe rồi lặng im. Thằng con nó cứ thế, theo bao mùa mưa mà lớn lên. Nó chẳng khác gì những đứa con của bản: đen trùi trũi, tóc vàng hoe như cái đuôi bò, suốt ngày mặc độc một cái quần đùi. Tay cầm chắc con dao rồi thì theo mẹ lên rẫy, lên nương trồng lúa, trồng ngô.
-         Thế nó không đi học à?
 Cụ đứng dậy, lại lấy khay trầu:
-         Có ăn không?
-         Dạ, cụ cho con một miếng. – lúc này chị mới thấy nhạt miệng.
Hai người ngồi lặng lẽ nhai trầu. Miếng trầu miền xuôi hay miền núi đều thơm  và ấm như nhau.Cụ lại hạ giọng trầm xuống:
- Học hành gì đâu. Thời đó bản ta còn lạc hậu lắm. Con cái chẳng mấy đứa được đến trường.Quần áo mặc đi học cũng không có. Trường học thì mái tranh xập xệ, trời mưa ngồi trong cũng ướt như ở ngoài. Bàn ghế học sinh, giường cô giáo, bàn họp của trường...tất cả đều dùng tre nứa ghép lại. Chưa hết năm thì con mọt nó đã làm cho sập xuống. Khổ thế nên có cô giáo đầu năm còn đi vận động các em đến trường, giữa năm đã chạy dài về quê... Trong bản đầy người thất học, nói chi đến thằng bé.
   Chị cố nén một tiếng thở dài.
Bà cụ lại ngồi bó gối, trầm ngâm:
- Thời nào theo thời đó. Con cái không học thì mười hai, mười ba tuổi đã lấy vợ, lấy chồng rồi bám lấy rừng mà sống. Rẫy này làm vài năm, cây ngô, cây lúa không tốt nữa thì bỏ đi phát rẫy khác. Nhưng con trai nó thì đến mãi ngoài hai mươi tuổi cũng chưa lấy được vợ. Nó khoẻ như con trâu rừng. Con gái nhiều đứa thương nó đấy, nhưng nhà nó không có bạc nén, không có trâu nên cha mẹ con gái  không gả cho. Nhưng rồi có lẽ nó hiền lành, siêng năng nên ông trời cũng thương, đưa đến cho nó một con vợ. Đó là một cô gái hay vào bản bán thuốc lào, cá khô, mắm ruốc. Lúc đầu, thỉnh thoảng tối rồi mà chưa hết hàng thì nó xin nghỉ lại nhà hai mẹ con. Lâu dần, hầu như đem nào nó cũng ngủ lại. Thế là nó có vợ. Không phải cưới xin gì cả. Vợ nó cũng siêng nhưng cái miệng hay chửi chồng lắm. Đứa con đầu lòng bị con “phí”  bắt khi mới được hai ngày. Nó ôm con khóc. Nhưng ông mo bản ta đã lấy đi, chặt đôi ra rồi chôn xuống đất.
-         Khiếp, sao ông mo ác thế?
- Không ác đâu, làm như thế để con ma nó không theo về bắt đứa khác.  Thế nên, hai năm sau thì vợ nó lại sinh được một đứa con trai kháu khỉnh lắm.
  Cụ lại im lặng, thở dài. Đêm bước đi trong tiếng côn trùng nỉ non buồn bã.
- Mấy năm sau, bỗng nhiên bản ta rầm rộ người lên khai thác quặng. Họ đào xới, lật tung đất đá lên mà kiếm tiền. Người trong bản ta nhiều người bỏ ruộng, bỏ nương mà tìm quặng. Con nít có đứa không muốn đến trường. Có tiền mà ! Tiền thì ai chẳng ham. Mỗi ngày đi đãi mót lại đất của người ta cũng được năm chục ngàn, đi học thì được cái gì ? Cha mẹ nghĩ thế, con cũng nghĩ thế. Nhưng cũng chỉ số ít thôi. Dân bản ta nay đã biết thích học cái chữ để thoát nghèo rồi. Thoát mghèo bằng cái đầu của mình chứ không phải bằng những đợt trợ giúp của chính phủ.
 Thằng con nó nhập hội, có ngày kiếm được khối tiền. Nó bảo sẽ cố gắng làm được cái nhà, không thể chui rúc trong lều mãi được. Vợ  nó thì chuyển sang nấu ăn cho các hội đào quặng. Đang yên đang lành, bỗng một buổi trưa, nó vác dao đuổi chém tên trưởng hội, mặt nó đỏ bầm lại, máu tuôn xối xả từ vai thằng kia.Nó gầm gừ như con thú dữ. Nó chửi con vợ lăng loàn, con vợ đĩ thoả.Cảnh vợ và tay trưởng hội đang tồng ngồng trên giường, mê mải, hì hục quấn nhau như hai con trăn không bao giờ nó quên được.Và nó bỏ đi . Mẹ nó hốt hoảng ra thị trấn tìm kiếm mấy ngày rồi thất thểu trở về. Ít lâu sau, con dâu và đứa cháu nội cũng biến mất tăm mất dạng. Thế là con Thơm lại trở về cảnh lầm lũi, cô quạnh như con mèo già đáng thương.
-         Thế sao bây giờ bà ấy lại ra thị trấn ?
- Ấy,  ông trời cứ bắt ta đi theo đường định sẵn mà ta không hề biết trước. Ai ngờ,  cái nhà của nó ở lại nằm trên một đống tiền. Người ta mua lại mảnh đất ấy với giá năm trăm triệu đồng.  Năm trăm triệu ! Cái con số mà bảo ta viết ra, ta cũng không viết được, cái số tiền mà bảo ta đếm, ta cũng đếm trước quên sau, chẳng biết bao nhiêu tờ thì đủ . Con Thơm gần như ngất xỉu đi. Nó ốm mất cả tuần vì lo. Cũng may, thằng con trai nghe tin nên lù lù trở về, nó bảo mẹ :
- Mẹ chẳng phải lo gì cả. Con sẽ mua hẳn một ngôi nhà ở thị trấn. Mẹ ra ở với con. Chuyến này, con sẽ làm ăn lớn đàng hoàng... Thôi, con gà cũng sắp thức dậy gáy rồi đấy. Ngủ đi rồi mai ta bảo cháu gái ta đi cùng mà tìm nó.
 Chị vào gường, nằm mãi mà không sao chợp mắt được. Chị cũng không dám nói thật với bà cụ tốt bụng rằng chị đâu phải là người quen...
  Năm 1972, mười sáu tuổi, chị bước về nhà chồng. Sống với nhau được một tuần thì anh ấy lên đường vào Nam đánh giặc. Và chị trở thành goá phụ khi mới tròn mười tám tuổi, chưa kịp có đứa con nối dõi tông đường theo nguyện vọng của gia đình anh. Tuổi xuân chị trôi đi trong những bận rộn chăm sóc bố mẹ chồng đau ốm. Hai cụ lần lượt qua đời, để lại ước nguyện cuối cùng: “Con cố gắng tìm  hài cốt của nó về cho gần cha mẹ”.  Chiến tranh qua đi mấy chục năm rồi. Danh sách những liệt sĩ chưa tìm thấy mộ vẫn dài dằng dặc như con đường Nam tiến khi xưa...
  Thế rồi, thật may mắn làm sao, sau bao nhiêu năm lặn lội kiếm tìm, nhờ sự giúp đỡ của nhà ngoại cảm, chị đã đưa được anh về. Trong cuốn nhật kí của anh, vào trước ngày mất, có viết: “ Nếu con có hi sinh, xin cha mẹ hãy tìm gặp cô Thơm, là thanh niên xung phong, ở làng ...xã Diễn Kỉ, huyện Diễn Châu. Con biết, cô ấy đã mang giọt máu của con trở về làng....Anh xin em tha thứ cho anh, trong hoàn cảnh bất ngờ, anh đã phản bội em...Chiến tranh em ơi, khi sự sống và cái chết chỉ cách nhau một sợi tóc, ta khó mà làm chủ bản thân mình...”
  Đến Diễn Kỉ,  người cháu trai ngậm ngùi: “ Nghe bảo cô bỏ nhà đi từ dạo đó. Chẳng ai biết đâu mà tìm. Ba năm trước, người làng có gặp cô hiện đang sống trong một bản người Thái ở huyện Quỳ Hợp. Mấy lần cháu lên đưa về nhưng cô  không chịu.”
 Cuộc đời nhiều khi nó có những cái vòng vèo đến lạ. Người chị cần tìm lại chính là người đàn bà đã ngã vào trước đầu xe hôm qua. Ngôi nhà rộng và khá đẹp, nhưng có cảm giác hoang lạnh. Lặng yên hồi lâu như để sống lại những ngày sôi nổi, trẻ trung và cũng vô cùng hiểm nguy, gian khổ khi xưa, người đàn bà lau nước mắt, những nếp nhăn càng thêm sâu hoắm:
- Nó mua ngôi nhà này hết ba trăm triệu. Còn tiền, nó đầu tư mua đất, làm quặng.Chẳng biết lời lỗ thế nào, một đêm tôi đang ngủ, nó chợt về dựng dậy và bảo: “ Nhà này con bán cho người ta rồi, nhưng mẹ đừng lo, con sẽ chuộc lại. Con thoả thuận với người ta cho mẹ ở, khi nào con về hãy hay.”. Tôi chết đứng như trời trồng, toàn thân lạnh toát. Thế là ngày hôm sau, tôi đã trở thành người ở cho một kẻ lạ. Bà con  hàng quán ở đây thương tình, bảo tôi đến lấy nước rác mà nuôi con lợn con gà...
  Hai người phụ nữ lặng lẽ trong đêm.Ngoài vườn, những chiếc lá khô xào xạc...
 - Thôi, dọn về ở cùng tôi. Tôi là vợ liệt sĩ, con chị là con liệt sĩ. Chắc trên trời cao, anh ấy cũng thoả lòng.
 - Nhưng còn con tôi ? Tôi sẽ ở đây để đợi nó về…
 Trước khi lên xe, chị nhắc lại câu đã nói nhiều lần trong đêm :
Chị cứ đợi con, tôi đợi chị. Chắc chắn, chúng ta sẽ đoàn tụ trong một ngày gần đây. Hồn anh ấy trên trời cao linh thiêng lắm đấy